- Đang online: 1
- Hôm qua: 1381
- Tuần nay: 20696
- Tổng truy cập: 3,454,974
NHÀ MẠC VỚI CÔNG CUỘC ỔN ĐỊNH XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TỪ 1527 ĐẾN 1546
- 2143 lượt xem
TỐNG THANH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ- VINH- 2009
PHẦN MỞ ĐẦ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Đến nay, vấn đề nhà Mạc không còn là vấn đề mới nữa nhưng vẫn còn một vấn đề đáng bàn là: nhà Mạc tồn tại một cách chính đáng dựa vào những nguyên tắc nào? Tính chính đáng có hai nghĩa như sau: Thứ nhất: triều đại ấy được thừa nhận và được ủng hộ. Thứ hai: triều đại ấy có góp phần vào sự tiến triển của dân tộc.
Dưới thời đại quân chủ, một triều đại được xác lập một cách chính đáng khi hội đủ ba điều kiện sau: Một là: Dòng họ của triều đại ấy phải có một lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình và làm chủ lãnh thổ đó. Hai là: Dân cư sống trên lãnh thổ đó phải theo về, ủng hộ và chấp thuận sự trị vì của dòng họ đó. Ba là: Triều đại có lãnh thổ, có nhân dân theo về ấy phải có một đường lối cai trị đất nước hay nói cách khác phải có những biện pháp tạo điều kiện cho xã hội ấy ổn định và phát triển. Bên cạnh đó, triều đại ấy phải được thiên triều Trung Hoa công nhận và truyền ngôi theo dòng đích con trưởng. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê cho đến nhà Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ đều tồn tại một cách chính đáng và nhà Mạc cũng không phải ngoại lệ.
Luận văn của tôi nhằm trình bày những vấn đề đó của nhà Mạc để chứng tỏ rằng nhà Mạc do Mạc Đăng Dung lập nên là một triều đại chính thống như các triều đại khác.
1.2. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc Hội thảo liên quan đến nhà Mạc như: nghiên cứu về nhân vật lịch sử, kinh tế công thương nghiệp, mỹ thuật thời Mạc, thành lũy nhà Mạc… tuy nhiên, vấn đề nhà Mạc với công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 đến 1546 vẫn chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, thỏa đáng, trong khi đây chính là một yếu tố quan trọng khi đánh giá về nhà Mạc vì đó là giai đoạn thịnh trị nhất của triều đại này. Thiếu sót này cần được khắc phục để trả lại những giá trị đích thực cho lịch sử.
1.3. Năm 1994, cuộc hội thảo tổ chức ở Kiến Thụy – Hải Phòng như một bước ngoặt trong việc nhìn nhận đánh giá lại nhà Mạc. Cộng với các cuộc hội thảo về Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã nghiên cứu một cách khách quan, đúng đắn nhà Mạc – thời đại ông đang sống. Như vậy, trải qua bao thăng trầm, quan điểm và phương pháp luận sử học Macxit đã trả lại cho nhà Mạc sự công bằng. Tuy nhiên, một thực tế đang diễn ra là những quan điểm cũ về nhà Mạc trong các giáo trình và sách nghiên cứu vẫn chưa có sự thay đổi một cách thỏa đáng, cũng như việc tiến hành tu bổ và xây dựng quần thể di tích nhà Mạc xứng tầm một triều đại phong kiến đã tồn tại trong lịch sử Việt Nam mới chỉ bước đầu được triển khai. Hiện thực đó đã khiến cho nhà Mạc và thời kỳ lịch sử ấy trở nên nhạt nhòa, vì vậy, thực hiện luận văn tác giả mong được góp sức nhỏ bé của mình để khắc phục thiếu sót đó.
1.4. Trong bối cảnh đất nước đã bước vào thời kỳ hội nhập, những thách thức của công cuộc đổi mới và hội nhập toàn cầu đặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta cần vận dụng những bài học từ lịch sử. Nhà Mạc với công cuộc ổn định xã hội dẫu chưa được công nhận là một cuộc cải cách thực sự thì những thành tựu trong khoảng thời gian đó cũng cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu để vận dụng vào thực tiễn. Đề tài đề cập đến công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc có thể sẽ mang lại những bài học bổ ích, thiết thực trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nước nhà.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Có thể nói, đề tài về nhà Mạc đã thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Nhiều đề tài nghiên cứu khá sâu về những thành tựu mà nhà Mạc đã đạt được trong suốt thời gian tồn tại, tuy nhiên, vấn đề nhà Mạc với công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 đến 1546 đang còn là một khoảng trống chưa được nghiên cứu kĩ lưỡng. Đó không chỉ là trách nhiệm của chúng ta ngày hôm nay đối với các bậc tiền nhân, với lịch sử đã qua mà còn là trách nhiệm đối với hậu thế, khi những giá trị chân xác của lịch sử vẫn lặng im qua bao năm tháng mà chưa được tiếp cận.
2.1. Tác giả trong nước
Không phải đến sử gia hiện đại theo lập trường và phương pháp luận sử học Macxit mới thừa nhận những giá trị của vương triều Mạc mà ngay từ thời phong kiến, công lao và đóng góp của triều đại này đã được thừa nhận dù ít nhiều chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo. Các sử gia phong kiến thời Lê – Trịnh dù đứng trên lập trường đối lập cũng nhiều lần công khai thừa nhận: “Mạc Đăng Dung một mình giữ binh quyền, từng bình được nhiều giặc lớn, uy quyền ngày càng thịnh…, lòng người ai cũng hướng về” [15, 260], “lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón y vào kinh sư” [15, 264]; “Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn” [15, 276]. Hay tác giả Phạm Đình Hổ sống sau thời nhà Mạc hai thế kỷ cũng ghi nhận: “Cái đức chính của đời Minh Đức, Đại Chính nhà Mạc( niên hiệu của Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh) vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên vận trời đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc chưa hết” [21, 157]. Thậm chí, sau này dưới thời chúa Trịnh (1701), Trịnh Du – thăng hàm thái phó cũng bị cách chức chỉ vì “ngợi khen ngụy Mạc, chê bai chính sử đương thời”[65, 305]… Đây chính là cơ sở quan trọng để chúng ta có cách nhìn khách quan về nhà Mạc trong việc nhà Mạc thay thế nhà Lê và vai trò của dòng họ này trong việc duy trì trật tự xã hội trong một thời gian không phải là ngắn.
Sử liệu về triều Mạc so với các triều đại phong kiến khác không nhiều, thậm chí bị xuyên tạc, vậy nên để tiếp cận sự thực lịch sử là điều khó khăn. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu gần đây đã góp phần làm sáng tỏ công lao của triều đại này đối với lịch sử. Trong đó, phải kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, đánh giá khách quan và đổi mới về nhà Mạc như:
Tác giả Đinh Khắc Thuân với cuốn “Văn bia nhà Mạc” Nhà xuất bản Khoa học xã hội , Hà Nội, 1996 – đây là một trong những thành tựu và là cơ sở để nhiều nhà nghiên cứu dựa trên nguồn tư liệu văn bia khai thác và nghiên cứu về đề tài nhà Mạc. Cũng tác giả này trong “Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm 2001 là công trình có giá trị khoa học cao. Trong tác phẩm này, tác giả đã nghiên cứu khá kĩ về triều Mạc trên hầu hết các lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế, văn hóa – xã hội. Được trang bị một khối lượng lớn nguồn tài liệu có uy tín, với khả năng xử lý thông tin của mình, tác giả Đinh Khắc Thuân đã tái hiện một xã hội Đại Việt trong thế kỷ XVI khá đầy đủ các khía cạnh. Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác giả nghiên cứu ở tầm khái quát trong 65 năm tồn tại của nhà Mạc nên vấn đề công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc từ 1527 đến 1546 chỉ được đề cập một cách khái lược. Hơn nữa, tác giả chọn cách tiếp cận vấn đề từ việc khai thác nguồn tư liệu thư tịch và văn bia nên sẽ không tránh khỏi sự hạn chế về mặt tư liệu. Mặc dù vậy, đây là một nguồn tư liệu quý cho chúng tôi sử dụng và khai thác để chứng minh những luận điểm trong đề tài của mình.
Từ năm 1994, những quan điểm đánh giá lại về vương triều Mạc đã mở đầu cho một khuynh hướng nghiên cứu mới về nhà Mạc, qua đó nhà Mạc đã bắt đầu được khẳng định sự tồn tại chính thống của triều đại mình. Nhiều tác giả đã trình bày những quan điểm và ý tưởng rất thuyết phục khi nghiên cứu về nhà Mạc như GS. Phan Huy Lê, Cố GS Trần Quốc Vượng, Cố GS. Trương Hữu Quýnh, GS. Ngô Đăng Lợi, PGS.TS. Trần Thị Vinh, nhiều con cháu thuộc dòng họ Mạc như GS. Hoàng Lê, GS. Phan Đăng Nhật… Những bài nghiên cứu trên được tập hợp trong một số cuốn về nhà Mạc như : “Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc”, Hội Sử học Hải Phòng 1996; “Vương triều Mạc 1527- 1592”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1993; “ Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử”, Hà Nội 1996; “Góp phần đổi mới quan điểm đánh giá vương triều Mạc” của tác giả Mạc Đường, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 2005, … Mặc dù vậy, những tác phẩm trên mới chỉ là sự tập hợp những quan điểm nghiên cứu mà chưa thực sự đi sâu vào từng vấn đề cụ thể, đặc biệt là vấn đề công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 đến 1546 của nhà Mạc. Tuy vậy, đây là nguồn tư liệu hết sức phong phú mang lại cho tác giả nhiều cách tiếp cận và gợi mở nhiều vấn đề trong quá trình nghiên cứu.
Trong nhiều tạp chí nghiên cứu, nhà Mạc được dành một sự ưu tiên đặc biệt khi có những chuyên đề, chuyên khảo về nhà Mạc khá công phu. Tiêu biểu như Tạp chí nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học, tạp chí Cửa biển của hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hải Phòng, Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam,…. nhiều bài viết đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến nhà Mạc. Tuy nhiên, trong những công trình đó, vấn đề công cuộc ổn định xã hội Đại Việt trong hơn hai mươi năm đầu cai trị của nhà Mạc (1527 – 1546) lại không được tập trung nghiên cứu mà chỉ đề cập đến một cách khái quát. Trong khi vấn đề này đối với việc nghiên cứu vương triều Mạc có tầm quan trọng như một tiêu chí không thể thiếu trong việc đánh giá tính chính thống của vương triều. Mặc dù vậy, đó là những tư liệu quý báu để tác giả tham khảo.
Từ những công trình nêu trên, có thể liệt kê một số những nhận định tiêu biểu của các tác giả về Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc trong lịch sử như sau:
GS. Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: “Nhà Mạc là vương triều ra đời và tồn tại sau nhà Lê. Việc nhà Lê sụp đổ, thay nhà Mạc là một hiện tượng có ý nghĩa tiến bộ, được nhiều người ủng hộ. Không nên coi sự việc này là sự cướp ngôi. Sau khi ra đời và tồn tại, nhà Mạc đã có những đóng góp nhất định về mặt văn hóa, về mặt tư tưởng và một phần nào đó về mặt kinh tế”[25, 173].
Nhà sử học Lê Văn Hòe: “… Cái khuyết điểm lớn nhất của cuốn Việt Nam sử lược là ở chỗ đã nặng lời biếm nhục Mạc Đăng Dung – vua Thái Tổ nhà Mạc… Sự thật khác hẳn. Mạc Đăng Dung bị hiểu lầm. Mạc Đăng Dung là một người anh hùng lập thân trong thời loạn. Mạc Đăng Dung là người yêu nước thương dân. Mạc Đăng Dung là người có tài ngoại giao” [20, 25].
Cố GS Trần Quốc Vượng: “Không nên chỉ nhìn nhận và đánh giá công nghiệp nhà Mạc qua những gì sử thần nhà Lê viết. “ Yêu nên tốt, ghét nên xấu” là chuyện thường tình. Mạc Đăng Dung lấy ngôi nhà Lê không phải từ tay một vị vua anh hùng như Lê Lợi, một vua Lê có học vấn và tài năng như Lê Thánh Tông, mà là từ những vua Lợn, vua Quỷ. Sự thay thế đó là hợp lẽ Đời và Đạo” [2, 214].
GS. Hoàng Lê: “Mạc Đăng Dung đã tỏ ra là một chính khách khôn khéo hơn người ta tưởng. Đối với mọi luật lệ, thể chế của nhà Lê, đều tỏ ra tôn trọng, chỉ dùng một bàn tay hết sức nhẹ nhàng để sửa lại những chỗ quá lỏng lẻo, bê trễ từ mấy triều đại đổ nát vừa qua. Người còn sửa sang đền miếu của các vị vua Lê ở Lam Kinh và giữ đúng nền nếp xuân thu nhị kỳ cúng tế. Lại truy phong cho các bầy tôi tiết liệt của triều trước, sai tìm kiếm con cháu các công thần vọng tộc cũ để bổ dụng”[18, 25].
Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam – Dương Trung Quốc: “Nhà Mạc là một triều đại lịch sử tồn tại trên tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc…. chỉ có 65 năm nhưng một triều đại để lại những dấu ấn đậm nét trên nhiều phương diện của lịch sử dựng nước (giáo dục, kinh tế, an ninh xã hội, nghệ thuật kiến trúc…). Lịch sử cũng ghi nhận trong 65 năm trị vì của nhà Mạc những nhân tố của một thời kỳ phát triển (thịnh trị)” [18, 25].
2.2. Tác giả nước ngoài
Hầu hết các tác giả nước ngoài khi đề cập đến nhà Mạc đều khách quan đánh giá vị trí của nhà Mạc trong lịch sử.
Tác giả Jonh K. Whitmore trong “Essays into Vietnamese Pasts” (SEAP Publications, 1995) đã nhận xét: “Mac Dang Dung (1483 – 1541) had also lived through the chaos of the century and was rising to power. Indeed, the 1521 inscription had perhaps been complied et his behest, and Dung was undoubtedly as desiruos as any restore what the Le kings had achieved ealier… This was Dung’s goal” [77, 122]. Xin tạm dịch “Mạc Đăng Dung (1483 – 1541) đã sống suốt thời kỳ khủng hoảng (hỗn loạn) của thế kỷ đó và đã tìm cách để tăng cường quyền lực. Năm 1521, sự thay thế đã có thể diễn ra trong khả năng của ông ta, và Dung đã xuất sắc phục hồi lại những cái mà các vua Lê trước đây đạt được. Đó chính là sự thắng lợi của Dung”.
Bên cạnh đó, còn một nguồn sử liệu phong phú và có giá trị được biên soạn cùng thời gian tồn tại của nhà Mạc có thể khai thác đó là những thư tịch cổ Trung Quốc. Trong đó có tác phẩm “Thù vực chu tư lục” do Nghiêm Tòng Giản biên soạn vào năm 1583, ghi về lịch sử các nước xung quanh Trung Quốc, trong đó cũng có nhiều sự kiện liên quan đến vương triều Mạc, đặc biệt có vấn đề nhà Mạc trả lại đất cho nhà Minh, có thể coi đây là tài liệu quan trọng để có những đánh giá chính xác về việc làm của nhà Mạc trong lĩnh vực ngoại giao.
Có thể nói, những nguồn tài liệu trên là cơ sở quan trọng và là chỗ dựa để chúng tôi khai thác và chứng minh cho những ý tưởng, luận điểm của mình.
3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ vấn đề: Công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của ba vị vua đầu triều Mạc (Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải) trong khoảng thời gian từ 1527 đến 1546. Đây không phải là khoảng thời gian dài nhưng lại là thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Mạc với những nỗ lực của nhà nước trong việc ổn định xã hội.
Trong luận văn, tác giả đi từ phân tích sự xác lập vương triều Mạc cho đến những thành tựu nhà Mạc đạt được trong thời gian đầu trị vì, kết hợp với việc so sánh đối chiếu với giai đoạn trước và sau đó, tức là giai đoạn cuối Lê sơ và giai đoạn đầu thời Lê Trung Hưng để trả lời câu hỏi: nhà Mạc xuất hiện thời điểm đó trên chính trường có giải quyết được yêu cầu lịch sử đặt ra không? Thành tựu của triều đại này đối với lịch sử có ý nghĩa như thế nào đối với sự tồn vong của vương triều Mạc và xã hội Đại Việt thế kỷ XVI? Trả lời những câu hỏi trên là nội dung cơ bản nhất của đề tài, có tác dụng dựng lại một thời kỳ đã qua và trả lại tầm vóc cho một triều đại đã có nhiều đóng góp với lịch sử – vương triều Mạc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ khoa học của đề tài nhằm làm rõ vấn đề sau: Sự xác lập quyền thống trị của nhà Mạc và sự ổn định của xã hội Đại Việt từ 1527 đến 1546. Đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến vai trò của Mạc Đăng Dung. Qua việc chú trọng tìm hiểu sự thay thế của nhà Mạc, tác giả muốn chỉ ra rằng: Việc lên ngôi của Mạc Đăng Dung là hoàn toàn chính đáng và hợp lẽ, đáp ứng yêu cầu lịch sử đặt ra cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Dẫu biết thời thế tạo anh hùng nhưng lịch sử đã chỉ ra rằng: Mạc Đăng Dung là người biết làm chủ thời thế, biết cách nắm lấy thời cơ cho mình và có trách nhiệm với vận mệnh lịch sử giao phó. Những nỗ lực, tâm huyết của một con người từ một người dân chài, thành một võ quan và trở thành hoàng đế đã phục hồi lại sức sống cho Đại Việt sau cơn khủng hoảng trầm trọng. Mạc Thái Tổ và con, cháu của mình đã toàn tâm toàn ý cho việc gây dựng và giữ vững cơ đồ của mình trong suốt một thời gian tồn tại.
4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tư liệu
Luận văn được thực hiện dựa trên những nguồn tư liệu chủ yếu sau:
– Tư liệu trong thư tịch cổ Việt Nam và Trung Hoa: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Lê triều dã sử, Lịch triều hiến chương loại chí, Thù vực chu tư lục…
– Tư liệu được hậu duệ đời sau con cháu họ Mạc lưu giữ: Hợp biên thế phả họ Mạc…
– Nhiều ấn phẩm của các nhà nghiên cứu gồm: sách, tạp chí, báo… liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
– Tư liệu điền dã, tư liệu trên các website đã được xác minh, kiểm định.
– Cuối cùng là các công trình nghiên cứu, các loại sách chuyên sâu về lịch sử Việt Nam, những kiến thức mang tính nền tảng của lịch sử dân tộc của nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, chúng tôi dựa chủ yếu vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chúng tôi đã sử dụng quán triệt để quan điểm sử học Macxit nhằm đánh giá khách quan về những đóng góp của vương triều Mạc đối với lịch sử dân tộc trong thế kỷ XVI. Đồng thời, quan điểm sử học Macxit cũng là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý nguồn tư liệu được các sử gia phong kiến biên soạn, trên tinh thần khoa học và đảm bảo tính lịch sử.
Về phương pháp cụ thể: trong luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp lịch sử, logic lịch sử, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp liên môn. Đặc biệt là phương pháp xác minh điền dã trên hiện trường lịch sử. Mục đích khôi phục một cách chân thực và khách quan về vương triều Mạc trong khoảng thời gian 1527 đến 1546 để giải quyết những vấn đề liên quan do đề tài đặt ra.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn cố gắng biểu đạt những đóng góp của nhà Mạc đối với lịch sử dân tộc thế kỷ XVI trên các phương diện lý luận cũng như thực tiễn:
5.1. Về mặt lý luận
Thế kỷ XVI trong cách nhìn nhận của chúng ta từ trước đến nay là thời kỳ bất ổn định, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng, chiến tranh triền miên loạn lạc. Vậy nên, nếu so sánh với thế kỷ XV – thời kỳ thịnh trị của chế độ phong kiến thì giai đoạn này mờ nhạt hơn rất nhiều. Hơn nữa, điểm giao thoa từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI là lúc nhà Lê Sơ vẫn nắm quyền thống trị nhưng đã bộc lộ những biểu hiện khủng hoảng suy yếu trầm trọng. Lên ngôi trong bối cảnh đó, việc giải quyết những khó khăn do triều đại trước để lại là điều không dễ dàng. Thực tế này đã làm phôi pha đóng góp và vai trò của nhà Mạc đối với lịch sử trong giai đoạn đầy biến động sóng gió. Luận văn sẽ góp phần chỉ ra những nỗ lực của nhà Mạc trong việc ổn định xã hội Đại Việt thế kỷ XVI và làm nổi bật những đóng góp của nhà Mạc trên một số lĩnh vực tiêu biểu mà nhà Mạc đạt được ngang bằng, thậm chí hơn hẳn những triều đại khác.
Qua đó, chúng tôi muốn chỉ ra sự thăng trầm của chế độ phong kiến và tính biện chứng, phát triển của lịch sử để lấy đó làm cơ sở làm thế giới quan trong quá trình nghiên cứu.
5.2. Về mặt thực tiễn
Tìm hiểu quá trình ổn định xã hội Đại Việt của ba vị vua đầu triều Mạc từ 1527 đến 1546 nhằm trả lại những giá trị đích thực cho nhà Mạc – một vương triều từng tồn tại chính thức trong lịch sử để thỏa tâm nguyện của bậc tiền nhân – những người đã có nhiều cống hiến cho lịch sử dân tộc và thể theo mong mỏi của bao thế hệ con cháu họ – những người đang nỗ lực không ngừng để vinh danh tổ tiên, cha ông mình.
Cùng dự án xây dựng quần thể khu di tích nhà Mạc xứng tầm với vị thế một triều đại từng tồn tại trong lịch sử, tác giả luận văn mong được góp sức mình trong việc tăng thêm sự hiểu biết về vương triều của mỗi du khách hành hương về Dương Kinh một thuở và làm phong phú nguồn tư liệu khi giảng dạy lịch sử địa phương cũng như góp phần giáo dục truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương.
6. BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Sự thiết lập vương triều Mạc
Chương 2. Công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc
Chương 3. Nguyên nhân thất bại của nhà Mạc
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. SỰ THIẾT LẬP VƯƠNG TRIỀU MẠC
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA XÃ HỘI ĐẠI VIỆT CUỐI THỜI LÊ SƠ
1.1.1. Tình hình kinh tế
1.1.1.1. Tình hình ruộng đất và thực trạng nông nghiệp
Một trong những nhân tố giúp hoàng quyền của nhà Lê Sơ tồn tại và có giá trị lâu bền đó là chính sách quân điền. Chính sách quân điền ban đầu mang một ý nghĩa tích cực đối với đại bộ phận nhân dân Đại Việt và trở thành công cụ để duy trì nhà nước phong kiến tập quyền mạnh mẽ như thời kỳ Lê Thánh Tông, xã hội đi vào thái bình, ổn định. Tuy nhiên, chế độ ấy cũng không tránh khỏi những hạn chế và ngày càng nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực khiến nhà nước dần suy yếu. Ngay từ cuối thế kỷ XV sang đầu thế kỷ XVI chế độ quân điền đã bộc lộ những mặt trái không thể khắc phục được. Khi số ruộng công làng xã ngày càng thu hẹp, cùng với chính sách lộc điền và nạn bao chiếm, kiêm tinh ruộng đất của bọn cường hào, địa chủ và một số quan lại, số ruộng người dân được hưởng ngày càng thu hẹp. Chính sách quân điền trở thành thứ trói buộc họ vào làng xã với sưu cao thuế nặng. Xã hội Đại Việt trì trệ, luẩn quẩn trong nền kinh tế tiểu nông.
Để giải quyết thực trạng này, nhà nước nhiều lần ban bố những điều luật nghiêm cấm những hành vi chiếm đoạt ruộng đất ao hồ của lương dân và quy định rõ trong “Quốc triều hình luật” trong đó: Điều 344, điều 352 quy định về việc xử phạt nếu nhận bậy ruộng của người khác, điều 355, 357 quy định việc xử phạt người ức hiếp mua ruộng người khác hay xâm chiếm đất đai của người khác, điều 370 cấm chiếm đoạt ruộng… Những chính sách trên đã phản ánh thực tế tranh chấp, lấn chiếm, cướp đoạt ruộng đất đã trở nên phổ biến, phải quy định thành những điều luật để xét xử. Tuy nhiên, hiệu quả những chính sách nêu trên không cao, vua Lê Thánh Tông đã bất lực mà nhận xét các quan lại rằng: “Lam Sơn là đất căn bản… Mới rồi bọn thế gia hay làm trái lễ phép, coi thường pháp luật, chiếm lấy đất làm của mình, các thân vương công chúa không có chỗ đất cắm dùi… Nay định giới hạn, người nào còn dám trái phạm thì theo luật trị tội” [56, 263].
Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc quản lý ruộng công nhưng trong xu thế phát triển của lịch sử, sự phát triển của ruộng tư là điều không tránh khỏi. Cho đến những năm cuối thế kỷ XV, sự phát triển của chế độ sở hữu lớn địa chủ về ruộng đất đã trở thành một nguy cơ lớn đối với nhà nước trung ương. Tình hình càng trở nên trầm trọng những năm đầu thế kỷ XVI, vua Lê Tương Dực (1509 – 1516) phải ban hành sắc chỉ vào năm Canh Ngọ (1510), trong đó quy định rõ: “Phàm các hạng ruộng đất, bãi dâu, đầm ao cấp tứ thì các xứ nên cấp vào hạng còn lọt ở dân, chưa vào sổ quan, cho quan Thái bộc tự tìm ra, làm bản tâu lên… làm sắc cấp cho các công hầu bá tước theo thứ bậc khác nhau” [12, 59]. Sắc lệnh này đã phản ánh thực trạng cướp đoạt ruộng đất một cách công khai của giai cấp thống trị, làm tăng số ruộng tư hữu mà chúng chiếm được, thu hẹp ruộng công làng xã, khiến cho đời sống nhân dân càng thêm khổ cực với số ruộng ít ỏi để sinh tồn.
Tiếp nhận một xã hội “ngoại thích chuyên quyền, phép cấm phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông tang mất nghiệp, phong tục ngày hư” của thời Đoan Khánh, vua Lê Tương Dực sau khi lên ngôi đã ban “Trị bình bảo phạm”, gồm 50 điều để chấn chỉnh kỷ cương, ban hành giáo hóa trong cả nước. Trong đó, điều 2 quy định việc lập mốc giới, khám thực ruộng và cấm ức hiếp lạm ruộng đất của nhân dân. Tuy nhiên, những luật lệ ấy cũng không mấy phát huy tác dụng. Những nỗ lực của nhà nước trong thời gian này đã không khắc phục nổi tình trạng bao chiếm ruộng đất của bọn địa chủ quan lại. Sự suy yếu của chính quyền trung ương vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của thực trạng đó. Thuế khóa, phu phen tạp dịch, cuộc hỗn chiến giữa các phe phái, thiên tai, bệnh dịch… đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp.
Đối lập với thời kỳ vua Thái Tổ, Thánh Tông, thời kỳ này nông nghiệp khủng hoảng trầm trọng. Nông nghiệp sa sút, nạn đói thường xuyên xảy ra. “Năm Nhâm Thân (1512) đại hạn, trong nước đói to”, năm Quý Dậu (1513) “Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 7, nước to, vỡ đê phường An Hoa (ở Kinh thành Thăng Long), nước thông với Hồ Tây” [12, 72-77] gây nên nạn lụt lớn. Hậu quả là năm Đinh Sửu (1517), “ trong nước đói to nhân dân chết đói nằm gối lên nhau. Các huyện như Đông Triều, Giáp Sơn ở Hải Dương, Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn ở Kinh Bắc, chỗ nào trải qua binh lửa càng đói hơn” [12, 94].
Đói khổ và bị bóc lột, không có con đường nào khác cho họ là vùng dậy đấu tranh. Phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên tiếp bên cạnh những cuộc tranh hùng của các thế lực phong kiến.
1.1.1.2. Tình hình công thương nghiệp
Với nỗ lực xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cao độ, nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách quan trọng về ruộng đất nhằm xây dựng một nền kinh tế tiểu nông, cột chặt người nông dân và làng xã vào sự quản lý của nhà nước. Mặt trái của chủ trương này là kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp. So với thời Lý, Trần, thời Lê Sơ hoạt động thương mại lắng xuống và không có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nước. Nếu Thăng Long và một số trọng trấn thời Trần làm trung tâm buôn bán của cả nước và nhiều thương điếm hoạt động tấp nập trên các cửa sông, cửa biển thì đến thời Lê Sơ trở nên vắng vẻ do nhà nước không tạo điều kiện mở mang thương nghiệp. Dưới thời Lê Sơ, cả nước đã có 83 phường, song hoạt động thủ công nghiệp và thương nghiệp chưa thực sự tấp nập, thậm chí năm 1481, vua Thánh Tông chủ trương đuổi những người “tạp cư” ở Thăng Long trở về nguyên quán, chỉ cho những người nguyên có hàng chợ phố xá ở lại buôn bán mà thôi.
Càng về sau, chế độ công tượng – chế độ lao động cưỡng bách cùng việc cấm đoán sự phát triển thương nghiệp đặc biệt là hoạt động ngoại thương, các hoạt động sản xuất khác ngoài nông nghiệp không được chú trọng đã làm cho đất nước ngày một suy yếu. Khi lĩnh vực nông nghiệp rơi vào khủng hoảng thì nền kinh tế khó có thể gượng dậy được. Hệ tư tưởng Tống Nho với quan điểm “dĩ nông vi bản” đã làm cho xã hội càng khắt khe hơn với tư tưởng trọng nông ức thương và thứ bậc “sĩ, nông, công, thương”. Bởi vậy, mất ruộng đất, bị bóc lột, nhưng người nông dân ngoài việc bỏ làng đi khai khẩn vùng đất mới không thể vượt ra khuôn khổ xã hội tiểu nông, họ đành chấp nhận thân phận bị bóc lột cho các thế lực nắm trong tay tư liệu sản xuất hoặc vùng lên khi bị đẩy đến đường cùng.
Như vậy, cuối thời Lê sơ đã bộc lộ những mặt trái của chế độ quân chủ chuyên chế mà khó có thể khắc phục nổi. Kinh tế công thương nghiệp không có thành tựu gì đáng kể, không thể cứu vãn nổi sự khủng hoảng của xã hội Đại Việt đang cận kề. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện của đất nước cuối thời Lê Sơ.
1.1.2. Tình hình chính trị, xã hội
Khi đánh giá về giai đoạn cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, các nhà nghiên cứu đều có chung một nhận xét đó là thời loạn, nhà nước phong kiến Lê sơ đã lâm vào khủng hoảng . Điều đáng tiếc là những vị vua có tài và tâm huyết trong giai đoạn này như Hiến Tông, Túc Tông đều dang dở với công cuộc trị vì của mình vì mất sớm, trong khi đó những người kế vị lại bất tài, thất đức. Tài năng và đức độ của vua Hiến Tông vẫn được sử sách ghi nhận: “Lê Hiến Tông trị vì bảy năm nhưng là ông vua cuối cùng của triều Lê Sơ còn giữ được những thành tựu từ thời Thái Tổ gây dựng” [10, 195]. Vua Túc Tông – “người kế vị xứng đáng”, ở ngôi chưa được một năm thì qua đời mang theo bao ấp ủ và sự mong đợi của vua cha.
Như vậy, sau khi Hiến Tông qua đời, nhà Lê bước vào thời kỳ suy vong với những ông vua mà thời gian không thể xóa nhòa được tiếng xấu. Hiện thực xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI có thể tái hiện như sau:
1.1.2.1. Sự xa hoa trụy lạc của tầng lớp thống trị
Trong thời đại phong kiến, vua định đoạt toàn bộ công việc trọng đại và điều hành mọi hoạt động của nhà nước. Một xã hội thái bình hay loạn lạc phụ thuộc chủ yếu vào năng lực và tâm huyết người đứng đầu. Sau thời Hồng Đức thịnh trị, những biểu hiện suy yếu của xã hội Đại Việt bộc lộ rõ. Giai cấp thống trị sống hưởng thụ, ra sức vơ vét, bóc lột, cưỡng bức nhân dân, suy vong là không tránh khỏi. Cụ thể là:
Vua Uy Mục sau khi lên kế vị (1505 – 1509) đã không thể giải quyết những yêu cầu của lịch sử, trái lại, càng làm cho tình hình thêm trầm trọng: “Vua thích uống rượu, hay giết người, hiếu sắc, làm oai, giết hại người tôn thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại chuyên quyền, trăm họ oán giận, người đời gọi là Quỷ vương” [12, 41]. Tệ hơn nữa, “Vua từ sau khi lên ngôi, đêm vào cung với cung nhân uống rượi say vô độ, ai say thì giết… Nhân dân ta oán mà vẫn không chừa. Lại mang lòng ngờ ghét. Phàm các quan người nào khi trước không muốn lập mình thì giết đi” [12, 48-49]. Trong khi đó, họ ngoại chuyên quyền, cậy thế hạch sách bóc lột nhân dân, thần dân trong nước đều thất vọng.
Mâu thuẫn trong nội bộ triều đình, giữa phái công thần tôn thất với phái ngoại thích đã dẫn đến cuộc lật đổ ngai vàng vua Uy Mục. Bản hịch dụ của Lương Đắc Bằng đã tố cáo tội ác không thể dung tha của vua Uy Mục, phản ánh tình trạng khủng hoảng trầm trọng của xã hội: “Lần lữa gần được 5 năm, tội ác đã đến muôn vẻ… Nhân dân nhức óc, cả nước đau lòng” [12, 52]. Tuy vậy, cuộc chính biến lật đổ vua Uy Mục đã không thể giải quyết được tình trạng rối ren trên vì thay thế là một vua Lợn (vua Tương Dực) không kém phần bất tài và tàn bạo. Trước tình trạng đó, năm 1510 Tả thị lang bộ Lại Lương Đắc Bằng đã dâng lên vua Tương Dực Kế sách trị bình gồm 14 điều nhằm cứu vãn tình hình nhưng không được thực thi. Cuộc sống xa hoa hưởng thụ của người đứng đầu đất nước càng làm trầm trọng thêm cơn khủng hoảng của xã hội Đại Việt đầu thế kỷ XVI.
Năm Nhâm Thân (1512), trong lúc đại hạn, nhân dân chết đói khắp nơi thì Tương Dực cho xây dựng đại điện gồm 100 nóc. Năm Quý Dậu (1513), vua bắt xây dựng điện Mục Thanh ở trước điện Phụng Thiên. Năm Giáp Tuất (1514), “vua bắt quân dân đắp thành ( Thăng Long) rộng to mấy nghìn trượng, … chắn ngang sông Tô Lịch… Lại làm thuyền chiến, sai thợ vẽ kiểu, sai bọn nữ sử cởi truồng chèo ở Hồ Tây, vua cùng chơi lấy làm vui thích lắm… Lại làm đài chín đợt (cửu trùng đài)… để rong chơi xa xỉ” [12, 81]. Chính sử cũng phải lên tiếng trước đời sống trụy lạc, xa hoa của giai cấp thống trị đương thời.
Như vậy, trong khi nền kinh tế tiêu điều, đời sống nhân dân khốn khổ, nhà nước đã không có những giải pháp đối phó, cứu vãn. Ngoài việc cướp bóc ruộng đất, tăng thuế khóa, bóc lột sức lao động của nhân dân để xây dựng những công trình đồ sộ và thỏa mãn cuộc sống xa hoa trụy lạc, nhà nước còn phải dồn sức đàn áp những cuộc nổi loạn của nhiều lực lượng chống đối. Các vị vua Lê dường như bất lực trước thực trạng rối ren của đất nước, thậm chí còn góp phần đẩy nó vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và sụp đổ.
1.1.2.2. Phong trào nông dân khởi nghĩa
Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, nhà nước phong kiến Lê sơ đạt đến đỉnh cao dưới thời Lê Thánh Tông đã nhanh chóng suy yếu, khủng hoảng mà không gì cứu vãn nổi. Nạn bao chiếm ruộng đất, thuế khóa, tạp dịch, những cuộc chiến tranh giữa các phe phái đã làm khánh kiệt người nông dân, đẩy họ tới bước đường vũ trang, tập hợp thành sức mạnh để chống lại giai cấp thống trị và chế độ phong kiến đã mục ruỗng để tìm lối thoát cho mình.
Ngay từ đầu thế kỷ XVI, hàng loạt phong trào nông dân khởi nghĩa đã nổ ra trên quy mô rộng lớn và kéo dài từ thời vua Lê Tương Dực cho đến thời vua Lê Chiêu Tông, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo (1516 – 1521). Có thể kể tên một số phong trào nông dân khởi nghĩa đã diễn ra trong thời kỳ này như: Năm Tân Mùi (1511) đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng và Trần Tuân, năm Nhâm Thân (1512) nổ ra cuộc khởi nghĩa của Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt dấy binh ở Nghệ An. Những năm sau đó, phong trào nông dân khởi nghĩa vẫn diễn ra, khi âm ỉ khi mạnh mẽ, lan rộng ở nhiều nơi. Sau khi đàn áp được phong trào đấu tranh của nông dân, giai cấp thống trị vẫn tiếp tục cuộc sống trụy lạc, hưởng thụ. Là một vị vua điều hành mọi hoạt động của quốc gia, trong bối cảnh xã hội đang rơi vào khủng hoảng, vua Tương Dực “không thi thố thêm được việc gì cụ thể để khắc phục tình trạng đất nước ngày càng thêm hỗn lọan” [10, 200] mà chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn xã hội, phong trào nông dân tiếp tục bùng phát.
Trong khoảng thời gian từ 1515 đến 1522, phong trào diễn ra mạnh mẽ ở các địa phương nhưThanh Hóa, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Kinh Bắc, Tuyên Quang. Mùa xuân năm Ất Hợi (1515), Phùng Chương cầm đầu một cuộc khởi nghĩa chiếm cứ vùng Tam Đảo, triều đình phải cử quân đến đàn áp, cuộc khởi nghĩa thất bại. Tháng 10 cùng năm đó, Đặng Hân và Đặng Ngật nổi dậy bạo động ở huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoa (nay là huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Tháng Giêng năm Bính Tý (1516) Trần Công Ninh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân ở xứ Đò Hối, huyện Yên Lãng (thuộc phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc), cuộc khởi nghĩa mau chóng bị đánh tan. Trong thời gian diễn ra cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo, trong nước còn diễn ra nhiều phong trào khác như: tháng 4 năm Kỷ Mão (1519) nhân dân các dân tộc thiểu số ở các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang khởi nghĩa; năm Canh Thìn (1520), Vũ Nghiêm Uy dấy binh hoạt động ở địa bàn Tuyên Quang, tháng 6 cùng năm nhân dân huyện Đan Điền, Thuận Hóa (Thừa Thiên), nổi dậy chống lại triều đình. Mùa hạ năm Nhâm Ngọ (1522) Bảo Xuyên hầu Lê Khắc Cương và Lương Phú hầu Lê Bá Hiếu dấy quân ở Đông Ngàn, Gia Lâm thuộc Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Ninh, Hà Nội).… Những cuộc khởi nghĩa trên tồn tại một thời gian ngắn rồi tan rã nhưng đã nói lên mức độ của cuộc khủng hoảng của xã hội Đại Việt đã lan rộng đến cả những vùng biên viễn của đất nước. Bức tranh xã hội Đại Việt tiêu điều xơ xác.
Cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo được đánh giá là cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất ở đầu thế kỷ XVI, là “đỉnh cao của phong trào nông dân phản kháng trong những năm thập kỷ đầu thế kỷ XVI”[38, 402].
Lãnh đạo phong trào là Trần Cảo, Trần Cảo người trang Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng), từng giữ chức Giám ở điện Thuần Mỹ. Trước tình trạng xã hội rối ren, loạn lạc và sự thối nát của bộ máy chính quyền phong kiến Trần Cảo đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Để chiêu tập lực lượng, thu phục nhân tâm Trần Cảo đã tự xưng là cháu năm đời của vua Trần Thái Tông (1225 – 1258), tự xưng mình là Thích đế giáng sinh, dựa vào lời sấm truyền “Phương Đông có khí thiên tử”, lãnh đạo đội nghĩa binh gọi là quân tam đóa (quân ba chỏm), dựng cờ khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm thuộc xã Hà Lôi, huyện Đông Triều (Quảng Ninh). Nghĩa quân đi đến đâu đều được nhân dân hưởng ứng, số lượng nghĩa quân lên đến hàng vạn người. Sức mạnh của nghĩa quân đã tạo uy thế ở khắp nơi, “một vùng Hải Dương đều rạp xuống như cỏ gặp gió, không ai chống cự nổi”, chính quyền quân chủ ở những nơi đó nhanh chóng tan rã. Sau một thời gian họat động, nghĩa quân Trần Cảo đã chiếm được kinh thành và kiểm soát một vùng đồng bằng rộng lớn gồm các miền Kiến An, Hải Dương, Kinh Bắc, Lạng Nguyên… Nghĩa quân đã làm hao tổn lực lượng lớn của nhà Lê, triều đình nhiều lần phải điều tướng giỏi như Trịnh Duy Sản, Nguyễn Thượng để trấn áp. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong sáu năm mới kết thúc (1516 – 1521), Trần Cảo sau một thời gian hoạt động đã truyền ngôi cho con là Trần Cung rồi nương chốn cửa phật rồi qua đời. Năm Tân Tỵ (1521), Mạc Đăng Dung được giao nhiệm vụ đánh Trần Cung, Trần Cung nhanh chóng thất bại và bị giải về kinh đô xử chém.
Phong trào thất bại, những thành quả phong trào nông dân khởi nghĩa này dẫu chưa mang lại nhiều ý nghĩa cho đông đảo nhân dân nhưng nó là hồi chuông báo hiệu sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của triều đình phong kiến Lê Sơ.
1.1.2.3. Khủng hoảng triều chính và cuộc đấu tranh giữa các phe phái
Những năm cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI chế độ quân chủ ngày càng suy yếu, khủng hoảng, sự tập quyền mất dần thay vào đó là sự bất lực, bất tài của các vị vua về sau. Các quyền thần tranh giành quyền lực, chia thành nhiều phe cánh mâu thuẫn sâu sắc với nhau, cuộc khủng hoảng triều chính càng làm cho xã hội Đại Việt bế tắc. Nhiều cuộc biến loạn triều chính và các cuộc xung đột diễn ra liên tục, thể hiện mong muốn thay đổi hiện thực xã hội và tham vọng bá vương.
Vua Túc Tông mất (1504), Lê Tuấn là người được vua chọn kế vị, sau khi lên ngôi, Lê Tuấn (vua Uy Mục) đã sai quan hầu cận ngầm giết Thái Hậu và những người trước đây không ủng hộ mình, đồng thời chỉ tin dùng hoạn quan và ngoại thích. Điều này đã dẫn đến một hậu quả là: mâu thuẫn giữa phái công thần tôn thất với phái ngoại thích ngày càng gay gắt, biểu hiện rõ nhất qua cuộc xung đột võ trang để tranh giành quyền thống trị đất nước.
Cuộc lật đổ ngai vàng của Giản tu công Lê Oanh đã nhận được sự ủng hộ khắp nơi và nhiều thế lực, nổi bật là lực lượng của Trịnh Duy Sản, Nguyễn Văn Lang ở xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa). Bài hịch dụ của Lương Đắc Bằng đã vạch trần tội ác của vua Uy Mục, kêu gọi đông đảo nhân dân hưởng ứng. Ngày 8 tháng 11 năm Kỷ Tỵ ( 19/12/1509), Lê Oanh dấy binh, làm lễ xuất quân, cuộc chiến diễn ra quyết liệt, sức chiến đấu của quân do Uy Mục huy động yếu ớt, vô tổ chức nên nhanh chóng thất bại. Kinh thành thất thủ, Uy Mục bỏ chạy đến phường Nhật Chiêu ( Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội) thì bị bắt, giải về kinh. Ngày 1 tháng 12 năm Kỷ Tỵ (1509), Uy Mục phải uống thuốc độc tự tử.
Sau khi giành thắng lợi, ngày 4 tháng 12 năm Kỷ Tỵ, Lê Oanh lên ngôi vua lấy niên hiệu Hồng Thuận (tức vua Tương Dực). Tuy nhiên, tình hình xã hội Đại Việt không chuyển biến theo hướng tích cực, trái lại lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc do vua và đám triều thần cũng chỉ là một bè phái suy đồi và hủ bại. Sau một thời gian cai trị, vua Tương Dực đã nhanh chóng đi vào cuộc sống hưởng thụ, xa xỉ tột bậc, bắt nhân dân xây dựng nhiều công trình đồ sộ, tốn kém trong khi dân đói khổ. Sứ thần Trung Quốc trông thấy vua đã nhận định “Quốc vương An Nam mặt thì đẹp mà người lệch, tính thích dâm, là vua lợn, loạn vong sẽ không lâu đâu” [12, 72].
Trước sự xa đọa của vua, nhiều quần thần từng can ngăn, vua chỉ nghe lấy lệ. Trịnh Duy Sản là một võ tướng có công trong việc thiết lập quyền cai trị của vua Tương Dực, đồng thời ông cũng có nhiều công lao trong việc đàn áp nhiều phong trào nông dân khởi nghĩa, được Tương Dực giao cho chỉ huy quân Cấm vệ. Sau nhiều lần can ngăn không được, Trịnh Duy Sản đã lôi kéo Thái sư Lê Quảng Độ, Thượng thư Trình Chí Sâm bàn kế hoạch lật đổ vua Tương Dực. Đêm 6 tháng 4 năm Bính Tý (1516) Trịnh Duy Sản giết vua ở cửa nhà Thái Học.
Việc làm của Trịnh Duy Sản cho thấy sự bất lực của vua và bộ máy nhà nước, xã hội tiếp tục bế tắc, khủng hoảng. Đây là khoảng thời gian xảy ra cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo, cùng việc phải đối phó với phong trào nông dân khởi nghĩa, triều đình càng tỏ ra lúng túng trước những sự biến trên. Trong khi đó, tại kinh sư một mình Trịnh Duy Sản nắm giữ quyền định đoạt mọi chuyện. Sự không thống nhất trong việc cất nhắc người kế vị một lần nữa khiến cho nội bộ triều đình xảy ra mâu thuẫn, vua Quang Trị ở ngôi được ba ngày thì bị giết, Lê Y (anh của Tương Dực) lên ngôi, hiệu là Chiêu Tông. Kinh thành biến loạn, Trịnh Duy Sản đưa vua vào thành Tây Đô ở Thanh Hoa để chuẩn bị lực lượng đối phó với các lực lượng chống đối, bỏ mặc kinh thành trước sự tấn công, cướp phá của giặc Cảo.
Sự lớn mạnh của cuộc khởi nghĩa do Trần Cảo lãnh đạo đã đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn vong của triều đình Lê Sơ. Vua từ thành Tây Đô hội họp nghĩa quân ba phủ, triệu tập các tướng trụ cột của triều đình như Trần Chân, Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Văn Lự, Trịnh Tuy đồng thời gửi hịch tới các địa phương, kêu gọi tiêu diệt giặc Cảo. Điều đáng nói, khi đứng trước nguy cơ quyền lực bị đe dọa, vua Lê đã huy động được một lực lượng đông đảo cận thần bên cạnh mình, chiến đấu để giữ vững ngai vàng nhưng khi đạt được mục đích của mình, chính vua lại là người làm mất đi những sự trợ giúp đắc lực ấy. “Bấy giờ trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay mình, trong nghe lời xiểm nịnh gian trá, ngòai say mê săn bắn chim muông, ngu tối không biết gì, ương ngạnh tự phụ, đến nỗi nguy vong là đáng lắm” [12, 88]. Vua Chiêu Tông cho người giết Trần Chân cùng sáu người đồng đảng đã khiến vua mất đi một chỗ dựa cho mình. Không chỉ vậy, việc làm đó vô hình chung đã khiến nhiều quan lại, cận thần phải suy nghĩ về vận mệnh của mình. Sau cái chết của Trần Chân, kinh thành càng náo loạn bởi sự trả thù của các tướng lĩnh đứng về phía Trần Chân, vua Chiêu Tông bất lực chạy sang Gia Lâm trốn. Quân của Hoàng Duy Nhạc ra sức cướp phá kinh thành, nhân dân điêu đứng khốn khổ. Vua chạy khỏi kinh thành, mất niềm tin, quân của Trịnh Tuy đang đóng ở Sơn Nam nản lòng tự giải tán. Vua không thể triệu tập lực lượng của Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hoa, đành mời Mạc Đăng Dung – bấy giờ đang là trấn thủ Hải Dương mang quân đến giúp đỡ. Sự kiện này mở đầu cho quá trình chi phối trực tiếp ảnh hưởng của Mạc Đăng Dung đến vua và công việc triều chính. Dưới sức ép của Mạc Đăng Dung, vua buộc phải chuyển đến Bảo Châu thuộc huyện Từ Liêm bất chấp sự can ngăn của một số cận thần. Mạc Đăng Dung giết những người có ý ngăn cản, triều thần ai cũng sợ và lo ngại về Mạc Đăng Dung.
Đứng trước tình hình đó, các tướng lĩnh tiếp tục hợp nhau lại, bàn cách đối phó với Mạc Đăng Dung. Cùng thời gian, Trịnh Tuy cùng nhiều tướng lĩnh mưu lập em trai của Tĩnh Tu công Lộc tên là Bảng làm vua, đổi niên hiệu là Đại Đức. Sau nửa năm thì phế bỏ Đại Đức và lập Lê Do lên làm vua, lập triều đình ở xã Miêu Nha (nay thuộc xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong khi đó, vua Chiêu Tông ở Bảo Châu yếu thế, bí mật cử người vào Thanh Hoa nhờ sự trợ giúp của Nguyễn Hoằng Dụ. Quân Hoằng Dụ thất bại, thiệt hại nặng nề trước sức mạnh của quân Mạc Đăng Dung, đành kéo về Thanh Hoa, ít lâu sau thì mất. Uy tín và quyền lực của Mạc Đăng Dung ngày càng mạnh mẽ dù sự phản kháng của các lực lượng khác với danh nghĩa hỗ trợ vua Lê đã trở nên rõ rệt.
Năm Kỷ Mão (1519), Trịnh Tuy cùng Lê Do tổ chức tấn công vào Bồ Đề – nơi vua Chiêu Tông đang đóng hành dinh. Trịnh Tuy khiêu chiến nhưng nhanh chóng bị đánh tan buộc phải rút về Yên Lãng (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Tháng 7 năm Kỷ Mão (1519), Mạc Đăng Dung thống lĩnh quân thủy bộ tấn công vào căn cứ của Lê Do ở Miêu Nha, Từ Liêm. Với tài chỉ huy của mình, lợi dụng điều kiện thời tiết, Mạc Đăng Dung cho khơi nước chảy vào căn cứ khiến quân của Lê Do bị tan rã, bỏ chạy. Lê Do bị bắt rồi đem giải về kinh sư và bị chém, Trịnh Tuy chạy vào Thanh Hoa, Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc đầu hàng, được Mạc Đăng Dung thu nhận. Ngày 20 tháng 9 năm Kỷ Mão, Chiêu Tông cùng các quần thần trở về kinh sư. Tình trạng hỗn chiến tạm thời chấm dứt.
Như vậy, xã hội Đại Việt cuối thời Lê Sơ khủng hoảng sâu sắc, toàn diện, giai cấp thống trị không còn đáp ứng được yêu cầu lịch sử. Nhân dân oán ghét, nông dân khởi nghĩa, tranh giành quyền lực giữa các phe phái càng làm cho xã hội rơi vào bế tắc cần được tháo gỡ. Sức mạnh tập quyền của chính quyền trung ương suy yếu trầm trọng, vua chỉ là bù nhìn và bị điều khiển dưới bàn tay của các tướng lĩnh. Những trụ cột trong triều đình hoặc bị vua sai giết hại hoặc đứng lên tổ chức chiến đấu để tranh giành quyền lực lẫn nhau. Trong số đó, nổi lên dòng họ Trịnh, Nguyễn ở Thanh Hoa và một thế lực mới là Mạc Đăng Dung xứ Hải Dương. Sự bất lực của chính quyền trung ương là một trong những nhân tố giúp cho các thế lực trên củng cố quyền lực và vây cánh cho mình. Trong đó, Mạc Đăng Dung – người đã từng bước tiến hành công cuộc lật đổ vua Lê và lên nắm quyền hành cai trị đất nước trong một thời gian không phải là ngắn, trở thành người đứng lên giải quyết yêu cầu lịch sử cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI.
1.2. MẠC ĐĂNG DUNG VÀ SỰ THIẾT LẬP VƯƠNG TRIỀU MẠC
1.2.1. Mạc Đăng Dung, quê hương và thân thế
Quê gốc của Mạc Đăng Dung vốn ở Chí Linh, Hải Dương, đến đời ông nội của Mạc Đăng Dung là Mạc Bình (Mạc Đĩnh Quý) mới chuyển đến làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). So với các nơi khác trên địa bàn huyện Kiến Thụy, Cổ Trai là nơi được khai phá tương đối muộn nhưng với vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi cùng sức lực của những người dân cần mẫn đã biến Cổ Trai thành một vùng quê trù phú, bởi vậy đất lành chim đậu. Cho đến thời Mạc Đăng Dung, Cổ Trai không phải là đất khoa bảng. Trước Mạc Đăng Dung, ở Cổ Trai chưa có ai từng đỗ đạt trong các kỳ thi do triều đình tổ chức. Sự kiện Mạc Đăng Dung thi đỗ Đô Lực sĩ là một niềm tự hào đối với nhân dân nơi đây, đồng thời mở ra một trang sử mới cho vùng đất này.
Trong khoảng thời gian làm việc cho nhà Lê, theo truyền thuyết lịch sử và các truyện kể dân gian, Cổ Trai vẫn là nơi đi về của Mạc Đăng Dung. Điều này góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó của ông với quê hương đồng thời tăng thêm ảnh hưởng của ông đối với mảnh đất này. Năm 1525, khi Mạc Đăng Dung nắm hầu hết quyền hành, ông đột ngột lui về Cổ Trai nhưng thực tế vẫn chi phối mọi việc ở kinh đô. Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiến hành lật đổ vua Lê và lập ra vương triều Mạc, sự kiện này đã mở ra một thời kỳ huy hoàng của vùng đất Cổ Trai. Từ một làng nhỏ, Cổ Trai đã trở thành một mảnh đất đế vương với nhiều lăng tẩm, đền đài, cung điện… và quan trọng hơn, Cổ Trai đã trở thành một trung tâm chính trị quan trọng của Đại Việt dưới triều Mạc, có lúc vị thế ngang hàng với Thăng Long.
Có thể nói, với bàn tay khối óc bao thế hệ, Nghi Dương đã trở thành một vùng đất trù phú, bước sang thế kỷ XVI với sự xác lập vương triều Mạc, Mạc Đăng Dung và các vua kế vị đã từng bước biến vùng quê của mình trở thành Dương Kinh – kinh đô thứ hai của nhà Mạc, một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của đồng bằng sông Hồng.
Viết về Mạc Đăng Dung có nhiều nguồn tư liệu nhưng theo quan điểm nhiều chiều: Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư chép về Mạc Đăng Dung ngắn gọn như sau: “Đăng Dung người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, lúc bé làm nghề đánh cá, đến khi lớn có sức khỏe, thi đỗ lực sĩ xuất thân, khoảng năm Hồng Thuận, thăng làm đô chỉ huy sứ Vũ Xuyên bá; trải làm quan ba triều, khoảng năm Thống Nguyên, làm đến Thái sư Nhân quốc công, sau phong An hưng vương. Ngầm kết bè đảng, trong ngoài hiệp mưu, lòng người quy phụ, rồi làm việc cướp giết ngôi vua, làm giả tờ chiếu nhường ngôi mà lên làm vua” [12,120]. Tác giả Lê Quý Đôn – nhà bác học tài ba thế kỷ XVIII, đã dựa trên bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã chỉnh lý, bổ sung thêm một số thông tin về Mạc Đăng Dung. Mặc dù Mạc Đăng Dung bị coi là nghịch thần nhưng Lê Quý Đôn vẫn dành một phần riêng để ghi chép chi cụ thể hơn về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật lịch sử này. Bộ chính sử tiếp theo có ghi chép về Mạc Đăng Dung là Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Các tác giả chủ yếu tập trung thể hiện rõ thái độ lên án Mạc Đăng Dung nên hầu như không có thêm nguồn tư liệu mới về cuộc đời và sự nghiệp của người khởi lập vương triều Mạc. Khi nhà Mạc được đánh giá một cách khách quan hơn đã có nhiều tư liệu đi sâu nghiên cứu về nhân vật lịch sử này, trong đó có cuốn Hợp biên thế phả họ Mạc do Ban liên lạc họ Mạc tập hợp và biên soạn. Những chi tiết về Mạc Đăng Dung được đề cập một cách cụ thể, rõ ràng và có cơ sở hơn. Ngoài ra, nguồn tư liệu dân gian cũng bổ sung một khối lượng tri thức khá phong phú về nhân vật lịch sử này, đó là những tư liệu hết sức khách quan mà cho đến ngày nay vẫn được lưu giữ, đặc biệt trên vùng đất quê hương nhà Mạc. Từ việc đối sánh các nguồn tư liệu khác nhau về Mạc Đăng Dung và triều đại có thể rút ra một vài nét nổi bật về Mạc Thái Tổ như sau:
Mạc Đăng Dung sinh vào giờ Ngọ, ngày Nhâm Tý (23) tháng 11 năm Quý Mão, niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483). Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng).
Về nguồn gốc họ Mạc, theo cuốn Hợp biên thế phả họ Mạc, họ Mạc ở miền Bắc và miền Nam nước Việt Nam đều xuất phát từ Trung Quốc, trong đó nổi bật lên tên tuổi của Mạc Hiển Tích – một danh nhân đời Lý. Theo Gia phả thì Mạc Đăng Dung chính là cháu xa đời của cụ Mạc Hiển Tích từng làm chức Thượng thư bộ Lại dưới triều Lý và là cháu bảy đời của Trạng Nguyên lưỡng quốc Mạc Đĩnh Chi triều Trần.
Mạc Đăng Dung xuất thân từ một gia đình nghèo, sinh sống bằng nghề đánh cá và lái đò qua sông ở đất Cổ Trai, nhưng nhìn vào gia phả dòng họ Mạc, có thể thấy đây là một dòng họ thế gia vọng tộc. Mạc Hiển Tích và Mạc Đĩnh Chi đều là những người đậu đạt và có nhiều đóng góp cho các triều đại phong kiến cũng như lịch sử dân tộc, tuy nhiên càng về sau dòng họ này càng sa sút. Đến đời Mạc Đăng Dung, lúc hiếu thời có theo nghiệp văn, nhưng vì nhà bần bách, phải bỏ làm nghề đánh cá sinh nhai. Ông học võ rất giỏi, lại sở trường môn vật và múa đao, có sức khỏe hơn người. Đó là một trong những nền tảng quan trọng góp phần hình thành nhân cách và tác động không nhỏ đến nghiệp lớn của Mạc Đăng Dung sau này.
1.2.2. Sự nghiệp của Mạc Đăng Dung
Xuất phát điểm của Mạc Đăng Dung là một người dân chài như bao người dân thường khác ở vùng quê Cổ Trai nhưng điểm nổi bật ở con người này là một sức khỏe phi thường và tính tình nhân hậu. Với sức khỏe và bản lĩnh người dân miền biển, Mạc Đăng Dung đã giành thắng lợi trong cuộc thi Đô lực sĩ tổ chức dưới thời Lê Uy Mục, ông đậu Đô lực sĩ xuất thân, được sung vào đội quân Túc vệ cầm dù theo vua, đây là mốc mở đầu cho con đường công danh của Mạc Đăng Dung. Từ một người dân bình thường, trở thành một lính túc vệ và cuối cùng thành một hoàng đế, đó là cả một quá trình gian khó. Để có được những bước tiến diệu kỳ ấy, ngoài tài năng võ biền, chắc chắn phải có cả trí tuệ cộng với chút may mắn do thời cuộc đưa lại. Trong trường hợp này, có thể nói Mạc Đăng Dung là anh hùng lập thân trong thời loạn.
Là một lính túc vệ, chắc hẳn Mạc Đăng Dung đã có nhiều lần lập công nên ngày càng được vua trọng dụng và nhanh chóng thăng tiến. Dưới thời vua Uy Mục, ông được phong làm Đô chỉ huy sứty vệ Thần vũ. Sang thời Hồng Thuận, năm Hồng Thuận thứ ba (1511), ông được tiến phong tước Vũ Xuyên bá, năm ấy ông 29 tuổi. Tiếp đó, năm Hồng Thuận thứ 7 (1515), triều đình sai Đăng Dung làm trấn thủ Sơn Nam, gia phong chức phó tướng Tả đô đốc. Từ sự thăng tiến của Mạc Đăng Dung cho ta thấy một điều: Mạc Đăng Dung là người có tài hoặc ít nhất cũng biết cách thu xếp để vun vén quyền lực cho mình, vì thế dưới con mắt của các sử gia phong kiến, “Đăng Dung trong lòng chứa mưu gian, nhưng bề ngoài làm ra vẻ thực thà, ngay thẳng, để mua danh” [15, 255]. Khoảng năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) xảy ra vụ Cù Khắc Xương và Trần Công Vụ, qua vụ việc đó cho thấy tiếng nói của Mạc Đăng Dung ngày càng có trọng lượng, càng làm tăng thêm ảnh hưởng của Mạc Đăng Dung trong công việc của triều đình. Cồ Khắc Xương và Trần Công Vụ đều là những người có ít chức quyền, đã nhân cảnh xã hội loạn lạc dùng bùa chú, thần thánh để “lừa bịp” nhân dân. Là người đang có vị thế nhất định trong triều đình, lại được gần gũi phục vụ và bảo vệ nhà vua, Mạc Đăng Dung có điều kiện tham gia những công việc của triều đình. Ông đã dâng sớ đòi nghiêm trị hai nhân vật trên: “Hạ thần thiết nghĩ: nhân, nghĩa, trung, tín là bốn điều thánh nhân thường làm luôn… Nay quân Cù Khắc Xương và Trần Công Vụ… đáng lẽ phải noi đạo vua, đường vua, và tuân theo lời dạy, lại giả xưng là Thiên Vũ, Thiên Bồng để dụ dỗ ngu dân… răn gì bằng hình phạt, chữa gì bằng pháp luật, sao không nghiêm đặt cấm điều?” [15, 256] và được vua chấp nhận. Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của Mạc Đăng Dung trong thời điểm này.
Tiếp đó, Mạc Đăng Dung là người đã tỏ ra kiên quyết nhất trong việc nghiêm trị Lê Quảng Độ với lý do như sau: “Tam cương ngũ thường, là giường cột chống đỡ trời đất, là cột đá yên nhân dân… Nay Lê Quảng Độ…, … tham sống sợ chết, nỡ nhơ nhuốc làm tôi kẻ thù…, thực là kẻ có tội với trời đất, với tổ tông, với thiên hạ, không thể nào tha được” [12, 91-92]. Với những lý lẽ sắc bén đó, tháng 12 năm Đinh Sửu (1517), vua buộc phải xử tử Lê Quảng Độ. Từ đó, tên tuổi của Mạc Đăng Dung ngày càng được triều đình và nhiều người biết đến, lời nói của ông có trọng lượng và sức thuyết phục cao. Mạc Đăng Dung đã được vua trọng dụng và ngày càng thăng tiến.
Với sự khôn khéo và tài năng của mình, sau nhiều sự kiện nêu trên, năm Quang Thiệu thứ ba (1518), Mạc Đăng Dung được vua thăng tước Vũ Xuyên hầu, điều ra trấn thủ Hải Dương. Việc làm trấn thủ Hải Dương là một cơ hội ngàn vàng đối với ông để chiêu tập lực lượng, chỉnh đốn quân ngũ.
Với việc vua Chiêu Tông nghe theo lời xiểm nịnh giết Trần Chân – một người từng có nhiều công đối với triều đình, vốn là chỗ dựa vững chắc của vua đã khiến vua mất đi một chỗ dựa đắc lực. Việc làm đó cũng gây một phản ứng mạnh mẽ tới các bộ tướng của Trần Chân. Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng vốn là những tướng mạnh vùng Sơn Tây nghe tin đó đã cùng Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thí đem quân tấn công Kinh sư, trả thù cho chủ tướng. Cuộc tấn công mạnh mẽ buộc vua phải chạy khỏi kinh thành, cầu cứu sự giúp đỡ của các tướng lĩnh như Trịnh Tuy, Nguyễn Hoằng Dụ nhưng đều bị khước từ hoặc thái độ thờ ơ. Các cận thần và lính cấm vệ đi theo vua không được mấy người, không thể trông cậy, buộc Chiêu Tông phải cử người đi Hải Dương mời Đăng Dung đến để giúp vua lấy lại Kinh sư. Mạc Đăng Dung nhận lời.
Đến đây, có thể khẳng định rằng, chính quyền trung ương đã thực sự suy yếu, sự tồn vong của chính quyền và ngai vàng hoàn toàn trông cậy vào Mạc Đăng Dung – một người đang có uy tín và sức mạnh hùng hậu. Với những toan tính của mình, Mạc Đăng Dung yêu cầu vua chuyển rời hành tại về Thuần Mỹ ở Bồ Đề để tiện hầu giá. Tiếp đó, ông lại yêu cầu vua chuyển về Bảo Châu (thuộc huyện Từ Liêm) để tránh xung đột với các lực lượng khác, vua phải chấp thuận. Đô ngự sử đài Đỗ Nhạc và Phó Đô ngự sử Nguyễn Dự đều can ngăn thì bị Đăng Dung sai người giết, Đinh Mông (người của Mạc Đăng Dung) rước vua về Bảo Châu, “quần thần đều run sợ Đăng Dung bèn rước vua tới Bảo Châu. Từ đây, đại quyền trong triều ngoài quận đều thuộc về tay Mạc Đăng Dung” [15, 258].
Một trong những yếu tố giúp Mạc Đăng Dung thành công đó là ông biết tính toán để làm suy yếu các thế lực thù địch, bảo toàn lực lượng cho đội quân của mình. Khẳng định như vậy là vì: Thứ nhất: Năm Đinh Sửu (1517), khi “vua còn bé, thế nước nguy, các tướng đều tự làm hùng trưởng, hiềm khích lẫn nhau” [12, 94], Mạc Đăng Dung không theo lệnh của vua trong việc đuổi theo và giết Nguyễn Hoằng Dụ khi Hoằng Dụ chạy vào Thanh Hoa. Thứ hai: năm Mậu Dần – năm Quang Thuận thứ 3 (1518) – khi vua sai Mạc Đăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ tấn công quân Nguyễn Áng và Nguyễn Kính ở Sơn Tây (hầu tướng của Trần Chân), thay vì cùng tấn công với quân của Hoằng Dụ, Mạc Đăng Dung lại án binh bất động không tiến nên vẫn được toàn quân. Có thể giải thích điều này như sau: khi Trần Chân – thông gia với Mạc Đăng Dung đang là một trụ cột của triều đình thì đối trọng duy nhất bấy giờ của Mạc Đăng Dung là lực lượng của Nguyễn Hoằng Dụ. Đây là thời điểm Mạc Đăng Dung chưa đủ sức chống chọi với ít nhất một trong hai lực lượng trên, có thể vì thế mà ông để Hoằng Dụ chạy vào Thanh Hoa để củng cố lực lượng chống lại Trần Chân. Khi Trần Chân đã bị giết chỉ còn lại vây cánh, Mạc Đăng Dung đã để Hoằng Dụ ra tay tấn công lực lượng thân cận của Trần Chân, còn mình bảo toàn lực lượng. Chỉ đến khi Hoằng Dụ “thua to, quân chết rất nhiều, tự liệu không thể đánh được, bèn rút quân về”, chạy về Thanh Hoa và mất tại đó, lực lượng suy yếu thì một mình Mạc Đăng Dung nắm giữ hết binh quyền, tung hoành không còn biết sợ ai.
Tháng 10 năm Mậu Dần (1518), triều đình cử Mạc Đăng Dung giữ chức Đề thống sứ các doanh quân thủy và bộ. Không lâu sau đó, tháng 7 năm Quang Thiệu thứ 4 (1519), vua Chiêu Tông sai Mạc Đăng Dung thống lĩnh quân thủy, bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, bắt được Lê Do, giải về kinh. Các tướng Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc (thuộc hạ của Trần Chân) đều ra hàng. Uy lực của Mạc Đăng Dung ngày càng thêm mạnh, hầu hết các lực lượng đối lập đã quy phục.
Sau sự biến Lê Do, âm mưu lập vua mới của một số tướng lĩnh trong triều bị đánh bại, ngày 20 tháng 9 năm 1519, vua trở về Kinh sư đại xá và thăng cho các quan một cấp, Mạc Đăng Dung được phong làm Minh quận công. Với sự hỗ trợ và đề bạt của Phạm Gia Mô, năm 1520, Mạc Đăng Dung được nhà vua cho giữ chức Tiết chế các doanh thủy lục quân 13 đạo, vậy là tất cả binh mã tinh nhuệ trong thiên hạ, đều thuộc quyền Đăng Dung.
Không dừng lại ở đó, quyền lực Mạc Đăng Dung gắn liền với công lao của ông trong việc đàn áp các phong trào nông dân khởi nghĩa trong đó có việc dập tắt cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo (bắt Trần Cung khi đang đóng hành dinh tại vùng Lạng Nguyên) năm 1521. Tiếp đó đem quân trấn áp cuộc nổi dậy của Lê Bá Hiếu ở Đông Ngàn.. Vì thế, Tân Tị năm thứ 6 (1521), nhà vua phong Mạc Đăng Dung làm Nhân quốc công, tiết chế thập tam đạo thủy bộ chư dinh. Những chiến công trên khiến cho uy quyền của Mạc Đăng Dung càng mạnh, thế lực của vua Lê Chiêu Tông ngày càng yếu ớt, lòng người ai cũng hướng về Mạc Đăng Dung.
Như vậy, trong vòng 11 năm (1508 – 1519), từ một lính Túc vệ, Mạc Đăng Dung đã vươn lên cấp cao trong tước bậc thời phong kiến. Dẫu là may mắn hay gặp thời thì cũng không thể phủ nhận tài năng và đóng góp của Mạc Đăng Dung đối với triều đình và xã hội lúc bấy giờ.
Tận tụy phục vụ vua trong một thời kỳ đất nước khủng hoảng kéo dài, Mạc Đăng Dung cũng như nhiều người khác đều có những toan tính cho riêng mình bằng cách bố trí những người thân thích, họ hàng ở những vị trí quan trọng trong bộ máy triều đình. Trong đó, con trưởng là Mạc Đăng Doanh làm Dực Mỹ hầu coi giữ Điện Kim Quang, con gái nuôi của Mạc Đăng Dung làm cung tần vào hầu vua, em trai là Mạc Quyết giữ quân Túc vệ, Vũ Hộ – em rể Mạc Đăng Dung giữ chức Hữu Đô đốc, Tổng trấn Sơn Tây. Thông gia với Mạc Đăng Dung là Phạm Gia Mô giữ chức Thượng thư bộ Lễ, thông gia với Trần Chân (Đăng Doanh lấy con gái của Trần Chân)… Mạc Đăng Dung đã khôn khéo tạo vây cánh cho mình, vừa liên kết, khống chế được các lực lượng khác, vừa tăng vị thế và quyền lực của mình trong bộ máy triều đình.
Với thế lực ngày càng hùng hậu, thực quyền của Mạc Đăng Dung ngày một lớn, Mạc Đăng Dung thi hành nhiều nghi thức đi lại trong triều không khác bậc đế vương. Điều này cho thấy Mạc Đăng Dung đang từng bước thâu tóm và xác lập quyền lực của dòng họ và bản thân trước khi tiến hành một cuộc lật đổ ngai vàng, sử sách cũng khẳng định “Đăng Dung giữ hết quyền thưởng phạt hoặc thăng giáng các quan lại cùng tướng sĩ, vua chỉ là hư vị mà thôi” [71, 325].
Như vậy, Mạc Đăng Dung sinh ra trong thời bình nhưng lớn lên trong thời loạn, ông đã thích nghi trong bối cảnh xã hội đầy rối ren, phức tạp và từng bước thâu tóm quyền lực về dòng họ mình. Từ một lính túc vệ trở thành một Hoàng đế chắc hẳn Mạc Đăng Dung phải là người có tài năng và khôn khéo. Sự thăng tiến của Mạc Đăng Dung gắn liền với những đóng góp của ông với triều đình nhà Lê, vậy nên hoàn toàn có cơ sở khi khẳng định rằng: sự xuất hiện của Mạc Đăng Dung đã đáp ứng được yêu cầu lịch sử đặt ra lúc bấy giờ, Mạc Đăng Dung lên ngôi thay thế những vua Quỷ, vua Lợn chứ không phải là những vị vua anh minh như Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông… và sự thay thế đương nhiên hợp lẽ Đời và Đạo.
1.2.3. Những khó khăn, thách thức đặt ra cho vương triều Mạc
Năm 1527, sự kiện Mạc Đăng Dung lên ngôi là một bước ngoặt đối với lịch sử dân tộc. Không chỉ vì nhà Mạc thay thế nhà Lê giải quyết những hậu quả của cuộc khủng hoảng xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI mà sau sự kiện 1527, lịch sử dân tộc có nhiều biến động, đó là cuộc chiến tranh Nam triều – Bắc triều suốt thế kỷ XVI và sự chia cắt đất nước Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài hơn hai thế kỷ. Điều này không đánh đồng với việc nhà Mạc gây ra những biến cố đó mà cần hiểu rằng: đó là những hệ quả ngoài ý muốn chủ quan của nhà Mạc. Trước và sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, vương triều Mạc được thiết lập, nhà Mạc và công cuộc ổn định xã hội Đại Việt bên cạnh số ít thuận lợi đã gặp phải muôn vàn những khó khăn, điều này chi phối không nhỏ đến cơ đồ nhà Mạc và tiến trình lịch sử dân tộc.
– Thái độ của tôn thất, quan lại nhà Lê Sơ đối với Mạc Đăng Dung trước năm 1527
Mạc Đăng Dung trong quá trình thăng tiến quyền lực đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của vua quan nhà Lê, để trở thành một Hoàng đế thay thế Hoàng đế Lê sơ là một quá trình gian khó. Trước sự lớn mạnh của thế lực Mạc Đăng Dung, vua và các cựu thần nhà Lê tỏ ra lo lắng nhưng bất lực.
Trước tình thế ngày một nguy cấp, nghe theo lời một số cận thần trung thành, đêm 23 tháng 7 năm 1522 vua rời khỏi Kinh thành để hiệu triệu bốn phương hỏi tội Mạc Đăng Dung. Ngay ngày hôm sau, Mạc Đăng Dung sai bộ tướng là Hoàng Duy Nhạc đem quân đuổi theo vua, trận chiến xảy ra, Hoàng Duy Nhạc tử trận. Trong tình huống Kinh thành trống vắng, vua không còn ở Kinh sư, Mạc Đăng Dung đã bàn với các đại thần tạm thời lập hoàng đệ Xuân lên ngôi. Ngày 1 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522), Đăng Dung và một số triều thần nhà Lê cùng tôn hoàng đệ Xuân lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ nhất. Vua Cung Hoàng là cháu bốn đời của Thánh Tông, cháu của Kiến Vương Tân, con thứ hai của Cẩm Giang vương Sùng, là em cùng mẹ với vua Chiêu Tôn, ở ngôi 5 năm, sau đó bị Mạc Đăng Dung giết.
Trong khi đó, vua Chiêu Tông ở ngoài đang huy động sự trợ giúp của nhân dân và các cựu thần, tuy nhiên, nhiều người từ chối, quay sang công khai giúp Mạc Đăng Dung như Vũ Hộ, các văn thần Nguyễn Bỉnh Hòa, Phạm Chính Hoa, Nguyễn Bạt Tụy, Chử Sư Đồng… Vua Chiêu Tông ngày càng mất đi nhiều chỗ dựa đắc lực, Trịnh Tuy bấy giờ đóng quân ở Thanh Hoa vốn là một lực lượng mạnh, cũng chần chừ trong việc ứng cứu nhà vua, lại thêm việc bị kế ly gián nên đã ép vua Chiêu Tông vào Thanh Hoa và yêu cầu giải tán hết các đạo binh, “thế của vua Chiêu Tông ngày càng suy sụp, các cựu thần hết hi vọng vào việc vực dậy nhà Lê” [38, 421].
Bấy giờ, trong một nước có hai vua, vua Chiêu Tông tập hợp lực lượng tại Thanh Hoa do Trịnh Tuy cầm đầu; Cung Hoàng đế ngự tại dinh Bồ Đề, mọi việc do Mạc Đăng Dung sắp xếp và đối phó. Sau khi đàn áp một số lực lượng nổi dậy, thế lực Mạc Đăng Dung vô cùng mạnh mẽ, kiểm soát và làm chủ vùng Kinh Bắc, các quan lại và quân dân đến quy phục ngày một đông. Để khẳng định sự hợp thức của mình, cả hai bên nhiều lần tấn công lẫn nhau, vua Chiêu Tông và lực lượng của Trịnh Tuy yếu thế hơn, nhiều lần thất bại. Tháng 8 năm Quý Mùi (1523), Mạc Đăng Dung giả mạo tờ chiếu của Cung Hoàng, phế Chiêu Tông làm Đà Dương vương.
Năm Thống Nguyên thứ 3 (1524), Mạc Đăng Dung tự thăng làm Bình Chương quân quốc trọng sự, Thái phó, Nhân Quốc Công. Cùng năm đó, Mạc Đăng Dung sai Mạc Quyết đem quân đánh Trịnh Tuy chiếm được các huyện ở Tây Đô, bành trướng uy quyền ngày một rộng lớn. Tháng 10 năm Ất Dậu (1525), Mạc Đăng Dung tiến đánh Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa. Trịnh Tuy thất thế rồi qua đời, vua Chiêu Tông cùng một số tướng lĩnh phải chạy vào động An Nhân, xã Cao Sơn, sách Thùy Cử, châu Lang Chánh, phủ Thanh Đô (Thanh Hoa). Mạc Đăng Dung tiến đánh và bắt được vua, giải về Kinh sư.
Đến đây, ngọn cờ giúp vua Lê của một số cựu thần nhà Lê đã mất đi chỗ dựa, vua Chiêu Tông bị bắt đã làm nản lòng những cận thần trung thành. Hầu hết trong số họ giải tán, có người tiếp tục chiến đấu rồi hi sinh, một số tuẫn tiết, số còn lại ra hàng Mạc Đăng Dung. Tiêu biểu như Nguyễn Tự Cường đã tự vẫn, Nguyễn Thái Bạt cũng bị Mạc Đăng Dung giết vì chống đối, Nguyễn Hữu Nghiêm và con trai cũng bị đưa về Kinh sư giết… Đối với những cựu thần văn võ nhà Lê quy phục, đều được Mạc Đăng Dung thu dùng, tùy theo khả năng và công lao mà được phong thưởng hoặc bổ dụng các chức tước khác nhau. Trong đó, Phạm Bá Khiêm làm Hữu thị lang bộ Hộ, Nguyễn Mậu được phong làm Thừa chánh sứ Tuyên Quang, ít lâu sau được cử làm Ngự sử đài….
Mạc Đăng Dung đã thẳng tay giết hại những người không hợp tác với mình, những người dám chống đối trong quá trình ông tiến hành công việc chuẩn bị cho sự ra đời của một triều đại mới. Với cách thức trên, Mạc Đăng Dung đã thực sự thâu tóm mọi quyền lực về tay mình. Để tạo sự khách quan, Mạc Đăng Dung lui về Cổ Trai nhưng vẫn chế ngự triều chính. Trên thực tế, những gì Mạc Đăng Dung làm đã phủ nhận quyền lực của nhà vua và báo hiệu một sự thay thế đang đến gần và không gì ngăn cản được.
Ngày 18 tháng 12 năm Bính Tuất (1526), Thái phó Nhân quốc công Mạc Đăng Dung sai Bái khê bá Phạm Kim Bảng bí mật giết vua Chiêu Tông, đem chôn ở lăng Vĩnh Hưng, huyện Thanh Đàm. Tháng 4 năm Đinh Hợi (1527), vua Cung Hoàng sai một số cận thần cầm cờ tiết mao mang kim sách, mũ áo ô long, đai ngọc, kiệu tía, quạt vẽ đến làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương tấn phong cho Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương, gia thêm cửu tích để tế thần. Nghi thức vua ban cho Mạc Đăng Dung thể hiện sự trọng đãi của người đứng đầu quốc gia với một đại thần có nhiều công lao như Mạc Đăng Dung.
Tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại Kinh sư trong sự đón tiếp của nhân dân và các quan lại trong triều, “lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón y về kinh đô” [16, 264]. Ngày 15 tháng 6, dưới sức ép của Mạc Đăng Dung, vua Cung Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung: “Ta bạc đức nối ngôi, không thể gánh nổi… Vậy nay thái sư An Hưng vương Mạc Đăng Dung, là người tư chất thông minh, đủ tài văn võ bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nước, trăm họ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều quy phục” [15, 265]. Bài chiếu do Nguyễn Văn Thái – quan của nhà Lê soạn. Mạc Đăng Dung lên ngôi một cách êm thấm mà không một cuộc đổ máu, tàn sát thảm khốc. Đăng Dung lên ngôi hoàng đế, ban lệnh đại xá thiên hạ, niên hiệu Minh Đức. Đồng thời, phế truất vua Cung Hoàng làm Cung vương, đem giam cùng với Thái hậu, vài tháng sau Mạc Đăng Dung bắt cả hai phải thắt cổ tự tử.
Như vậy, trước sự thăng tiến của Mạc Đăng Dung, các quan lại triều Lê có nhiều thái độ khác nhau. Hầu hết trong số họ đều bất lực trước những động thái của Mạc Đăng Dung. Khi Mạc Đăng Dung khôn khéo vươn lên đỉnh cao của chức tước thì thái độ các quan lại nhà Lê có rõ ràng hơn. Nhiều người trong số họ chọn con đường thờ phụng nhà Lê đến cùng, trở thành những anh hùng tiết nghĩa, một bộ phận bỏ vua Lê quay sang ủng hộ Mạc Đăng Dung, số còn lại bất lực trước thời cuộc, lui về ở ẩn không quan tâm đến chính sự. Đó là sự chọn đường của trí thức Đại Việt sau sự “thay vạc đổi ngôi” từ nhà Lê sang nhà Mạc.
– Thái độ của các thế lực ủng hộ nhà Lê sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi Hoàng đế
Năm 1527, vương triều Mạc được thiết lập, sự chống đối của các cựu thần nhà Lê không chấm dứt mà mạnh mẽ, quyết liệt hơn với danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”.
Năm 1529, bề tôi cũ của triều Lê là Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang tố cáo nhà Minh về việc làm của nhà Mạc nhưng không có kết quả, chết già ở nước Minh. Trong khi đó, Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao nuôi dưỡng quân lính, ngầm tìm con cháu họ Lê lập lên để mưu khôi phục. Năm 1530 Lê Ý, cháu ngoại nhà Lê nổi lên chống nhà Mạc trong suốt một năm trời gây cho nhà Mạc nhiều tổn thất. Năm 1531, bề tôi cũ nhà Lê ở Thanh Hoa nổi dậy chống Mạc khiến nhân dân trong vùng điêu đứng. Tháng 12 năm 1532, Nguyễn Kim lập vua Lê ở Ai Lao, lấy hiệu là Nguyên Hòa (tức Trang Tôn), năm 1533 vua lên ngôi, chiêu tập hào kiệt khắp vùng, giao kết với Ai Lao để khôi phục cơ đồ nhà Lê, mưu lấy lại nước. Năm 1539, Trịnh Kiểm tiến đánh các xứ để lấy lại Tây Kinh, sau đánh huyện Lôi Dương gây nhiều tổn thất cho nhà Mạc. Năm 1540, Nguyễn Kim đốc quân đánh Nghệ An, thu hút nhân dân trong vùng. 1542, vua Lê cho quân tiến đánh Thanh Hoa, Nghệ An. 1543, nhà Lê tiến quân ra từ thành Tây Đô giao chiến với nhà Mạc, “hễ đánh là thắng”. 1545, vua thân đem các tướng đi đánh miền Sơn Nam, đến huyện Yên Mô đóng dinh. 1546, nhà Lê cho lập hành điện ở sách Vạn Lại (Thọ Xuân, Thanh Hóa), cử tướng Trịnh Kiểm đánh dẹp nhiều nơi, “hào kiệt các châu Ô Quảng, Hoan Diễn đua nhau đến dinh môn, ai cũng vui lòng giúp sức, cõi đất Ái châu dần yên” [12, 137].
Như vậy, ngay khi thành lập, ngọn cờ “Phù Lê” đã được các thế lực ủng hộ nhà Lê tận dụng để làm sức mạnh hiệu triệu nhân dân, nổi dậy chống lại nhà Mạc. Dẫu các sử gia phong kiến vẫn thừa nhận: “Bấy giờ thần dân trong nước đều theo Mạc Đăng Dung đều đón vào Kinh sư” [12,118] nhưng cũng ghi lại một thực tế sau khi nhà Mạc thiết lập là: “thần dân đều thất vọng, trong nước bâng khuâng” [12,120]. Trước thực trạng đó, Mạc Đăng Dung và những người kế vị đã nỗ lực không ngừng để “phủ dụ thần dân, trấn áp lòng người” [12,120]. Sự chống đối của các lực lượng ủng hộ nhà Lê là một thách thức đối với nhà Mạc, buộc nhà Mạc cùng lúc phải khôi phục đất nước vừa phải dồn sức đối phó với sự tấn công từ phía nhà Lê.
– Thái độ của nhà Minh đối với nhà Mạc
Tồn tại bên cạnh một nước lớn hùng mạnh như phong kiến Trung Hoa đặt ra cho các nước phiên thuộc nhiều trọng trách đối với thiên triều, ngay cả sự thay thế triều đại, muốn cai trị một cách chính thống cũng cần phải được sự chấp nhận của triều đình phương Bắc. Năm 1527, nhà Mạc thay thế nhà Lê, nhưng trước khi xảy ra cuộc chính biến này, nhà Minh đã theo rõi khá sát các biến cố chính trị trong triều đình nhà Lê. Những biến động của triều Lê sơ, chuyện phế lập và xung đột phe phái, cuộc khởi nghĩa Trần Cảo, sự chuyên quyền của Mạc Đăng Dung… đã được báo về triều Minh. Liên tiếp những năm sau đó, một số lực lượng trung thành với nhà Lê cho người sang Trung Hoa tố cáo nhà Mạc cướp ngôi và xin triều đình nhà Minh đem quân sang trừng phạt Mạc Đăng Dung.
Vốn có tham vọng xâm chiếm Đại Việt, nhà Minh đã tận dụng cơ hội này để thực hiện âm mưu bành trướng của mình. Ý thức được nghĩa vụ của một nước nhỏ đối với nước lớn, ngay sau khi lên ngôi, năm 1528, Mạc Đăng Dung đã sai người sang Yên Kinh (Bắc Kinh) để tâu với nhà Minh việc thay thế của nhà Mạc và mong được triều đình nhà Minh chấp nhận nhưng vua Minh không nghe. Năm 1533, Minh Thế Tông giao cho quần thần bàn nghị, định cất quân tiến đánh Mạc Đăng Dung. Sau mấy năm tính toán, năm 1537, nhà Minh quyết định sẽ động binh chinh phạt nước Nam và giao cho viên Phó Đô ngự sử viện Đô sát là Mao Bá Ôn đảm nhiệm việc Nam chinh. Tháng 4 năm 1537, vua Minh giao cho bộ Lễ và bộ Binh bàn về việc Nam chinh, tất cả đã sẵn sàng đợi lệnh. Vào thời điểm bấy giờ, nhà Minh đang gặp rất nhiều khó khăn do sự suy yếu của bộ máy nhà nước, phong trào nông dân khởi nghĩa và nạn “Nụy khấu” cùng sự xâm nhập của thực dân Bồ Đào Nha… Những khó khăn trong đối nội và đối ngoại đã cản trở nhà Minh phát động chiến tranh song nhà Minh vẫn mưu toan thực hiện chủ nghĩa bành trướng đối với Đại Việt. Tháng 10 năm 1537, vua Minh lệnh rằng: “Phô trương lực lượng không sơ suất, hành động không được khinh suất, nếu không sẽ chịu trọng tội” [38, 437]. Năm 1538, triều đình nhà Minh ra lệnh: “… Lại dụ Mạc Đăng Dung khéo bó thân tự hàng, dâng sổ sách, bản đồ thì sẽ không chết” [38, 348]. Nhà Minh đã dùng cách hư trương thanh thế từ xa, phao tin sẽ tiến đánh nhà Mạc. Chưa dừng ở đó, sau sự kiện năm 1538, nhà Mạc đầu hàng ở ải Nam Quan và dâng sổ sách, đất đai, hộ tịch, tháng 7 năm 1539 nhà Minh chủ trương nếu cha con Mạc Đăng Dung có ẩn ý thì tiến quân để giữ nghiêm phép tắc triều đình, nếu biết nghe lời, triều đình sẽ tha tội, đồng thời cử tướng Cừu Loan và Mao đi chinh phạt Đại Việt nhưng sự thật chỉ nhằm hư trương thanh thế. Mao Bá Ôn tiến sát biên giới Đại Việt, dụ dỗ cha con Mạc Đăng Dung nếu tự trói thân nhận tội, dâng hết sổ sách ghi chép dân số và ruộng đất thì được tha tội.
Tháng 4 năm 1541, triều Minh cho đúc ấn An Nam Đô thống sứ ty để ban cho Mạc Đăng Dung, nghĩa là nhà Minh công nhận vai trò thống trị của nhà Mạc thay thế nhà Lê. Từ khi lên nắm quyền cho đến khi được nhà Minh thừa nhận, nhà Mạc liên tục phải tìm cách đối phó với những yêu sách của nhà Minh, cộng với sự chống đối của các thế lực trong nước, nghĩa là nhà Mạc cùng lúc phải đối phó với thù trong giặc ngoài. Qua đó, càng thấy những nỗ lực của nhà Mạc, đặc biệt dưới ba vị vua đầu triều trong quá trình phục hồi và xây dựng lại đất nước.
Ngoài ra, nhà Mạc còn phải tập trung giải quyết những hậu quả của cuộc khủng hoảng xã hội Đại Việt kéo dài từ cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI trên hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, xã hội. Trên đây là những khó khăn, song cũng là thách thức đối với nhà Mạc trong buổi đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình nhà Mạc nắm quyền cai trị và chi phối không nhỏ đến công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc cũng như tiến trình lịch sử dân tộc
CHƯƠNG 2.
CÔNG CUỘC ỔN ĐỊNH XÃ HỘI ĐẠI VIỆT CỦA NHÀ MẠC
Nhà Mạc tồn tại một cách chính thống trong 65 năm từ năm 1527 khi Mạc Đăng Dung lên ngôi mở đầu vương triều Mạc cho đến năm 1592 khi nhà Mạc phải chạy khỏi kinh đô, sau đó nhà Mạc tồn tại thêm gần một thế kỷ trên đất Cao Bằng (1592 – 16 77). Khoảng thời gian thịnh trị gần 20 năm đầu dưới ba triều vua Mạc đã tạo một tiềm lực mạnh cho nhà Mạc duy trì sự tồn tại của mình. “So với triều Lê đổ nát của một loạt các ông vua tối tăm, tàn bạo, đắm say sắc dục đầu thế kỷ XVI, thì rõ ràng triều Mạc là một vương triều có nhiều mặt tiến bộ hơn, nhất là giai đoạn đầu… Triều Mạc đã tạo ra một thời gian ổn định và phát triển trong toàn xã hội” [31, 64 – 65]. 20 năm tuy không phải là dài so với một triều đại nhưng lại là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa đối với nhân dân, với dân tộc sau một thời gian khủng hoảng cuối thời Lê sơ.
2.1. VỀ CHÍNH TRỊ
2.1.1. Tổ chức, củng cố chính quyền trung ương và địa phương
Bất kỳ một triều đại phong kiến Trung Hoa hay Việt Nam khi lên nắm quyền thống trị đều bằng mọi cách để khẳng định tính chính đáng của dòng họ mình. Lên ngôi năm 1527, Mạc Đăng Dung đối mặt với những khó khăn thách thức nhiều hơn thuận lợi. Đó là hậu quả của một thời kỳ khủng hoảng kéo dài, sự chống đối của nhiều thế lực… Là người đứng đầu nhà nước và có quyền lực cao nhất, Mạc Đăng Dung và những vua kế vị đã nỗ lực tiến hành công cuộc ổn định xã hội Đại Việt toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa..
2.1.1.1. Những việc làm của Mạc Đăng Dung sau khi lên ngôi
Sau khi lên ngôi Mạc Đăng Dung làm lễ cáo tế trời đất, dựng tôn miếu, truy tôn tổ tiên, “lập con trai là Đăng Doanh làm thái tử, phong em trai là Quyết làm Tín vương, truy phong em trai là Đốc làm Từ vương, ba em gái đều phong công chúa…” [15, 266]. Đó là những thủ tục đầu tiên và không thể thiếu cho bất cứ triều đại nào khi thành lập. Ở ngôi được 3 năm, năm 1530 Mạc Đăng Dung truyền ngôi cho Mạc Đăng Doanh rồi lên làm Thái Thượng Hoàng. Việc truyền ngôi theo chế độ trưởng nam và theo dòng đích là một nguyên tắc mà hầu hết các triều đại quân chủ duy trì để tăng thêm tính lệ thuộc và làm mất đi tính ly khai hoàng quyền trong mối quan hệ hoàng quyền thần thuộc. Thực hiện được nguyên tắc này trong 65 năm, triều Mạc đã không xảy ra những rối loạn về mặt thiết chế, không có sự tranh giành đế vị dù sau đó tình hình xã hội ngày càng lâm vào khủng hoảng.
Đặt niên hiệu của một vị vua là một nghi thức đầu tiên sau khi lên ngôi. Mỗi niên hiệu thể hiện nguyện vọng và ý chí của người đứng đầu nhà nước, mỗi triều đại thường có một niên hiệu, khi có nhiều sự biến, niên hiệu cũng có thể bị thay đổi nhiều lần trong một đời vua. Mạc Đăng Dung sau khi lên ngôi đặt niên hiệu Minh Đức để chứng minh tâm đức trong sáng của ông khi thay thế nhà Lê. Nếu Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh và Mạc Phúc Hải chỉ đặt 3 niên hiệu lần lượt là Minh Đức (1527 – 1520), Đại Chính (1530 – 1540), Quảng Hòa (1540 – 1546) thì hai vị vua sau là Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1564) và Mạc Mậu Hợp (1564 – 1592) chín lần thay đổi niên hiệu. Điều này cho thấy sự ổn định, thịnh trị trong giai đoạn đầu của nhà Mạc so với hai triều vua Mạc sau đó.
Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi Hoàng đế đã duy trì các nghi thức của các triều đại trước và theo gương nhà Trần lập lại Thái Thượng Hoàng, tu bổ, chăm sóc lăng tẩm, miếu mộ của triều đại trước. “Đăng Dung… sai quan tu sửa lầu điện ở Lam Kinh, mỗi năm hai lần tế lễ vào mùa xuân và mùa thu; lại bốn kỳ tế lễ nơi lăng Mỹ Xá” [71, 329]. Mạc Đăng Dung đã khôn khéo khi không trả thù, tàn sát những người trong tôn thất và cựu thần nhà Lê một cách khốc liệt, thậm chí ông còn sử dụng họ (những người ủng hộ mình) trong bộ máy chính quyền buổi đầu thành lập, “phong Vũ Hộ làm Tĩnh quốc công, cho đổi sang họ Mạc, Phong Trung quan Nguyễn Thế An… làm Ly quốc công”[15, 266] và phong tước và thăng trật 56 người theo thứ bậc khác nhau. Sử gia phong kiến đánh giá: “Đó là giả nhân nghĩa để thuận lòng dân” [71, 329], nhưng xét một cách khách quan, việc làm này của Mạc Đăng Dung cần được đánh giá cao so với các triều đại trước và sau đó, ít nhất là trên khía cạnh đạo đức và chính trị.
Như vậy, sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung rất khôn khéo để khẳng định và duy trì sự tồn tại của triều đại. Thực tế là trong buổi đầu thành lập, ông đã thành công trong việc khẳng định sự xác lập một triều đại mới thay thế triều Lê sơ đã khủng hoảng, suy vong.
2.1.1.2. Tổ chức, củng cố chính quyền trung ương
Nhà Mạc vẫn lấy Đông Kinh làm kinh đô như nhà Lê sơ và xây dựng Dương Kinh – quê hương nhà Mạc với nhiều công trình kiến trúc quy mô, đồ sộ mang tầm vóc như một kinh đô thứ hai.
Đứng về góc độ thiết chế nhà nước mà nói, “thiết chế nhà Mạc tương đối ổn định, chế độ quân chủ tập trung được xác lập vững vàng” [71, 12]. Là một dòng họ xuất thân bình dân, trong buổi đầu thành lập, “nhà Mạc không hề có một hậu thuẫn ở những người giúp việc trung thành của dòng họ Mạc” [71, 13]. Hơn nữa bấy giờ lòng người còn mến cũ buộc Mạc Đăng Dung phải giữ pháp độ triều Lê, chính vì vậy, nhà Mạc đã kế thừa bộ máy chính quyền thời Lê Sơ. Theo nghiên cứu của Đinh Khắc Thuân, có thể hình dung mô hình tổ chức chính quyền trung ương nhà Mạc theo sơ đồ như sau:
|
Bảng 1. Sơ đồ tổ chức chính quyền trung ương
Nhìn vào sơ đồ tổ chức chính quyền trung ương của nhà Mạc, ta thấy cách tổ chức bộ máy chính quyền không khác biệt, thậm chí hầu như kế thừa bộ máy chính quyền nhà Lê sơ, tuy nhiên cũng có đôi nét khác biệt nhờ chọn lọc nhiều yếu tố từ các triều đại trước đó. Xuyên suốt lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, vua bao giờ cũng có quyền hành tuyệt đối. Bên cạnh vua còn có một bộ phận giúp việc để giải quyết các công việc hệ trọng của đất nước. Các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước có thể thay đổi tên gọi tùy theo từng triều đại nhưng vẫn phải đảm bảo trọng trách của mình trước vua và vận mệnh quốc gia.
– Phụ chính: Theo Đào Duy Anh trong cuốn “Từ điển Hán Việt”: “Phụ chính là quan đại thần giúp ấu chúa để trông nom việc nước. Phụ chính mang tính chất tư vấn không có tính chất hành chính”[65, 134]. Theo đó, có thể hiểu Phụ chính là một chức danh của người cố vấn cho vua điều hành chính sự, đây là công việc hết sức quan trọng, người làm phụ chính phải là những người có uy tín và tài năng trong số các đại thần thân cận hoặc trong hoàng tộc. Trong lịch sử vương triều Mạc, chức danh này xuất hiện muộn, năm Tân Sửu (1541), nghĩa là sau hơn mười năm thành lập cho đến khi Mạc Đăng Dung qua đời, chức Phụ chính được giao cho một số vị đại thần có uy tín. Sử cũ chép như sau: “Tháng 9 ngày Mậu Thân, Mạc Phúc Hải sai Thái úy Trung Quốc công Mạc Như Quế, Thái bảo Dương Quốc công Đặng Đôn Tín vào phụ chính” [15, 272]. Nghĩa là sau khi Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung – chỗ dựa của vương triều Mạc qua đời, vua Mạc Phúc Hải mới có thêm hai người trợ giúp đắc lực với cương vị Phụ chính, trong đó, Thái sư phụ trách về lĩnh vực quân sự, Thái bảo phụ trách về chính sự.
Có thể nói, chức Phụ chính là một chức vụ cao trong triều đình nhà Mạc và là người có quyền lực lớn trong bộ máy chính quyền. Đến nhà Mạc chức Phụ chính vẫn được duy trì vì nó thực sự cần thiết trong hoàn cảnh mới để cùng người đứng đầu quốc gia giải quyết những trọng trách mà lịch sử giao phó.
* Các văn phòng giúp việc cho vua
Với khối lượng công việc lớn và quan trọng, bên cạnh nhà vua còn có một hệ thống các văn phòng với những chức năng khác nhau.
– Lục bộ: Lục bộ là các cơ quan hành chính quan trọng hàng đầu trong bộ máy chính quyền nhà nước ta tiếp thu từ Trung Quốc, ngày một hoàn chỉnh hơn. Theo Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, chức Thượng thư được đặt ra từ thời Lý, đến thời Trần mới chia ra Thượng thư các Bộ, đến đời Lê Sơ ban đầu chỉ có bộ Lại và bộ Lễ, sau vua Lê Nghi Dân đặt sáu bộ, và đến Thánh Tông thì duy trì sáu bộ, đứng đầu là các Thượng thư. Theo đó, đến thời Lê Sơ, năm Quang Thuận thứ bảy (1466) thì đổi sáu viện thành sáu bộ và duy trì cơ quan này đến hết triều Nguyễn.
Nhà Mạc cũng duy trì sự tồn tại của sáu bộ giống như dưới triều Lê Sơ. Mỗi bộ chịu trách nhiệm chủ yếu về một mặt hoạt động của Nhà nước. Sáu bộ làm việc trực tiếp với vua, chịu sự điều hành của vua và là những cơ quan điều hành mọi công việc chủ yếu của nhà nước. Với vai trò quan trọng của sáu bộ – thường được xếp theo quy định là bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình và bộ Công vì vị Thượng thư đứng đầu bộ Lại thường là vị đại thần đứng trên các vị thượng thư ở các bộ khác, bộ Lại là bộ có quyền trong việc đề, cử, thăng giáng các chức vụ trong bộ máy triều đình… cho nên bộ Lại vẫn là bộ có vai trò quan trọng nhất trong số các bộ.
Nhà Mạc cũng đề cao vai trò của các vị đứng đầu các bộ, giống như thời Lê Sơ đều ban cho ấn bộ, chức ở đầu tòng nhị phẩm. Có thể hình dung hoạt động của một số bộ dưới thời Mạc qua một vài tư liệu ít ỏi, chủ yếu qua nguồn tư liệu văn bia như sau:
Sau khi nhà Mạc thành lập, sáu bộ đã đi vào hoạt động và thực hiện các chức năng của mình. Cụ thể là, sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung đã phong Mạc Ninh Chính, tước Khánh Khê hầu, người trong hoàng tộc làm Thượng Thư bộ Binh. Bộ Lễ ngay trong buổi đầu thành lập đã có hai Thượng Thư là Nguyễn Thanh tước bá, Nguyễn Thì Ung tước công [62, 130]. Sử sách cũng nhiều lần nhắc đến tên tuổi và chức danh của các Thượng thư làm việc trong các bộ trong thời gian đầu thành lập của nhà Mạc, trong đó tiêu biểu là Thượng thư bộ Hình Ngô Miễn Thiệu (thời vua Mạc Đăng Dung) [15, 272], năm Nhâm Thìn (1532), Đăng Doanh dùng An Bang thừa chính sứ Trần Phỉ làm Tả thị lang Lại bộ sau đó mùa xuân năm Mậu Tuất (1538) bổ Trần Phỉ làm Thượng thư bộ Lễ [15, 278]… Đặc biệt, trong đó nổi bật lên tên tuổi Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy sách sử không chép cụ thể hoạt động của ông trong thời gian làm việc, nhưng với tài năng của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng là Trình Tuyền hầu Tả thị lang Lại bộ [15, 280].
Nói tóm lại: Lục bộ dưới thời nhà Mạc vẫn duy trì mô hình và cách thức hoạt động như lục bộ thời Lê Sơ, những người đảm nhận công việc của các bộ đều là những người đầy tài năng, tâm huyết và được nhà vua tín nhiệm, đảm nhận nhiều trọng trách.
– Hàn lâm viện: Hàn lâm viện ở thời Mạc hoạt động như một văn phòng bên cạnh vua để giải quyết các công việc quốc gia. Thời Mạc, “Hàn lâm viện là cơ quan phụng mệnh vua khởi thảo các bài chế, chiếu, văn thư, cũng như việc nghiên cứu, giảng giải văn chương với vua” [63, 109].
Về chức vụ: Người đứng đầu Hàn lâm viện là Hàn lâm viện học sĩ, điển hình như Nguyễn Giản, Phạm Đoan Lương, Vũ Kính, Đỗ Uông và Mai Công Cẩn,… Trong đó, Nguyễn Giản – Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1538), tước Lâm khê hầu, ông được triều đình giao chức Thừa chỉ kiêm quản công việc của Hàn lâm viện, Vũ Kính – Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1544) giữ chức Tả thị lang bộ Lễ kiêm nhiệm công việc của Hàn lâm viện, Nguyễn Giản Thanh – Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508), giữ chức Thị thư thời Lê, kiêm Đông các học sĩ, sang thời Mạc thăng lên chức Thượng thư và Thị thư Hàn lâm viện… Hầu hết những người đứng đầu Hàn lâm viện đều là Tiến sĩ, có tài về văn chương, gọi là Quan Hàn Lâm.
Khái quát lại, Hàn lâm viện của nhà Mạc là cơ quan giúp vua chuẩn bị các giấy tờ, chiếu cáo, văn thư, ít mang tính chất tư vấn cho vua, không nặng về hoạt động thù đáp như các triều đại khác.
– Đông các: Thời Mạc, Đông các là một bộ phận giúp vua sửa chữa các bài chế, biểu, thơ văn liên quan đến chính sự. So với Hàn lâm viện, Đông các tổ chức đơn giản hơn. Những ai vào làm Đông các phải trải qua thi tuyển, điều kiện thi là phải đỗ trong kỳ thi Hội sau đó được tuyển lựa trong kỳ thi Đông các, tương tự như thi vào Hàn lâm viện. Những người từng làm việc trong Đông các như: Nguyễn Thanh, Nguyễn Thì Ung, Vũ Cán, Nguyễn Văn Thái, Mạc Ninh Bang… hầu hết trong số họ đều giữ trọng trách là Thượng thư bộ Lại và bộ Lễ. Một trong những nhân vật tiêu biểu từng làm việc ở Đông các thời Mạc đó là Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, “sau khi thi đỗ, Nguyễn Bỉnh Khiêm được bổ chức Đông các hiệu thư” [31, 11]. Là một người uyên bác, tài ba, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được giao phụ trách vấn đề ngoại giao để đối phó với âm mưu xâm lược thường trực của kẻ thù. Qua những tác phẩm của ông như “Phụng tiếp thiên triều lai sứ”, “Tiễn Tư Minh phủ công sai” và “Ký tư minh phủ tri phủ”… đã phản ánh công việc ông đảm nhiệm. Ông được giao nhiệm vụ đối ngoại cùng việc giải quyết vấn đề biên giới nhiều lần. “Lúc này Nguyễn Bỉnh Khiêm đứng đầu tòa Đông các, cơ quan duyệt lại các văn bản quan trọng của triều đình, cho nên có thể nói ông có phần trách nhiệm đối với các văn thư ngoại giao triều Mạc Đăng Doanh” [69, 60].
Tóm lại, nếu Hàn lâm viện lo các vấn đề về văn chương thì Đông các đảm nhận các vấn đề về chính trị, ngoại giao – vốn là những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của mỗi quốc gia. Vì vậy, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong Đông Các, phải là những người tài ba, chủ yếu là các Nho sĩ.
– Tôn nhân phủ: Tôn nhân phủ là nơi chuyên lo công việc nội bộ của hoàng tộc, như chăm lo việc giáo dục cho các hoàng tử, công chúa trong triều. Những người đảm nhận trọng trách này phải là các đại thần và đều là thân tộc của nhà vua, đặc biệt họ phải có tài năng nổi trội để đảm bảo công việc của mình. Nhà Mạc cũng có cơ quan phụ trách công việc này, trong đó, hai nhân vật tiêu biểu phụ trách công việc này là Mạc Kính Điển và Mạc Ngọc Liễn. Trong thời gian đầu thành lập không thấy sử sách nhắc đến cơ quan này nhưng căn cứ vào sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục dưới thời Mạc, và sự tài ba của các vị vua đầu triều Mạc, ta có thể kết luận tôn nhân phủ dưới thời Mạc được chú trọng, ngay từ giai đoạn đầu thành lập.
– Quốc Tử Giám: Năm 1076, Quốc Tử giám ở Thăng Long được thành lập dưới thời Lý là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Đứng đầu Quốc tử giám là Tế tửu, sau đó là Tư nghiệp, Giáo thụ, người học tại đây là các Giám sinh. Đến thời Mạc, cách thức đào tạo và các chức vụ không có nhiều thay đổi, nhà Mạc vẫn duy trì hoạt động học tập và thi cử ngay những năm đầu thành lập, Quốc tử giám được nhà nước quan tâm đặc biệt “Mùa xuân năm Bính Thân, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 4 (1536) Đăng Doanh sai… tu sửa lại trường Quốc tử giám”, “ Tháng Giêng, mùa xuân năm Đinh Dậu, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 5 (1537), Đăng Doanh đến trường Thái học làm lễ Thích điện tế tiên thánh, tiên sư” [71, 344].
Là một triều đại trọng giáo dục, trọng hiền tài, nhà Mạc rất tôn vinh những người đảm nhiệm trọng trách này, thể hiện qua việc bổ nhiệm các vị Thượng thư bộ Lại kiêm nhiệm chức Tế tửu Quốc tử giám, tương ứng với hàm tam phẩm trong bộ máy triều đình. Nhà Mạc sau khi lên ngôi đã phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, chăm lo cho hoạt động của Quốc tử giám, tổ chức đều đặn các kỳ thi và tổ chức khắc bia Tiến sĩ tôn vinh những người đỗ đạt. Trong hoàn cảnh khó khăn buổi đầu thành lập, những điều nhà Mạc đạt được là điều đáng trân trọng.
– Ngự sử đài: Theo tác giả Phan Huy Chú: “Chức ngự sử, đời Lý về trước chưa đặt, đời Trần mới đặt Ngự sử đài” [6, 22]. Theo đó, những người làm việc trong Ngự sử đài đảm nhiệm nhiều công việc quan trọng như “phong hóa pháp độ”, có chức năng giám sát các hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, thậm chí có lúc Ngự sử đài có nhiệm vụ can gián vua. Đến thời Mạc và các triều đại sau này, Ngự sử đài vẫn được duy trì, hoạt động theo mô hình và chức năng ban đầu thành lập.
Trong thời kỳ đầu, nhà Mạc giữ nguyên mô hình tổ chức của Ngự sử đài như thời Lê, tuy nhiên điểm khác biệt là những người làm việc trong Ngự sử đài là những người đảm nhiệm những chức vụ cao trong trong triều đình. Nổi bật một số tên tuổi như Thượng thư Nguyễn Đình Tấn, Phạm Phi Hiển – tước hầu, Thượng thư Nguyễn Thiến, Nguyễn Lương, Nguyễn Bỉnh Di – tước hầu, Ngô Khánh Nùng… họ có tiếng nói nhất định trong triều chính cũng như với vua, góp phần không nhỏ trong việc chấn chỉnh kỉ cương triều chính cũng như góp sức cùng triều đình duy trì ổn định xã hội.
– Ngũ phủ: Ngũ phủ là cơ quan được thành lập từ rất sớm trong bộ máy chính quyền phong kiến Trung Hoa cũng như Việt Nam, theo tác giả Đinh Khắc Thuân ngũ phủ được lập ra từ triều Trần nhưng đến triều đại Lê Sơ thì cơ quan này mới hoàn chỉnh và hoạt động hiệu quả với sự phân công rõ ràng các nhiệm vụ, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Căn cứ vào tài liệu sử sách chép lại, có thể hình dung sơ lược về Ngũ phủ như sau: sau khi nhà Mạc thành lập, Mạc Đăng Dung phong chức tước cho nhiều công thần trong đó có phong cho Mạc Đình Khoa chức Tả đô đốc kiêm quốc công (1527) [15, 267], Thái bảo Vũ Hộ được Mạc Đăng Doanh phục chức làm Tây quân tả đô đốc chưởng phụ sự năm 1534 [15, 277], Lê Bá Ly do được vua tín nhiệm nên được thăng chức Đông quân đô đốc, tước quận công năm Kỷ Hợi (1539) [15, 279]… Từ đó cho thấy: những cá nhân đảm nhận những chức vụ trên là những người thuộc ban võ, có nhiều công lao trong việc duy trì quyền lực của nhà Mạc và đảm bảo sự ổn định xã hội Đại Việt trước sự phục hưng của các lực lượng nhà Lê. Ngũ phủ có chức năng quan trọng trong việc đảm nhận việc quân, đảm bảo trật tự xã hội cũng như bảo vệ độc lập cho đất nước.
Như vậy, nhìn vào sơ đồ bộ máy chính quyền trung ương nhà Mạc ta thấy, dẫu “khuynh hướng quan liêu trải qua một thời kỳ phát triển cao độ đã đi đến chỗ suy thoái” [72, 11] và lâm vào khủng hoảng sau thời Hồng Đức thì đến triều đại Mạc, mô hình tổ chức của bộ máy nhà nước phong kiến quan liêu ấy vẫn được duy trì, tiếp nhận một cách chọn lọc trên cơ sở giản tiện hơn, thực dụng hơn. Có thể nói, trong mọi thời đại, vấn đề chính quyền luôn chiếm vị thế quan trọng của một triều đại. Ngay sau khi xác lập, Mạc Đăng Dung và các vị vua sau đã không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước để đảm bảo điều phối công việc quốc gia. Đó không chỉ là cách khẳng định tính chính thống của vương triều mình mà còn là cách để nhà Mạc đại diện cho dân tộc đối phó với tham vọng xâm lược và lật đổ của các thế lực trong và ngoài nước.
2.1.1.3. Tổ chức, củng cố chính quyền địa phương
Để làm chủ chính quyền và quản lý một lãnh thổ rộng lớn kéo dài đến Ninh Bình, bên cạnh việc củng cố bộ máy nhà nước, nhà Mạc tăng cường quản lý các địa phương thông qua các cơ quan hành chính và các chức quan. Nhà Mạc duy trì hệ thống chính quyền địa phương theo mô hình nhà Lê Sơ mà không có nhiều thay đổi.. Nhà Mạc dù phải đối phó với những cuộc trung hưng của cựu thần nhà Lê song hầu như không gặp phải sự phản kháng nào của nhân dân các vùng miền. Xã hội Đại Việt từ khi nhà Mạc lên nắm chính quyền đã có nhiều tiến bộ, đổi thay, mang một diện mạo mới, vì thế, nhân dân yên tâm sinh sống, sản xuất, họ chấp nhận chính quyền mới – chính quyền đem lại cuộc sống yên bình, ấm no.
Có thể khái lược hệ thống chính quyền địa phương dưới thời Mạc theo mô hình sau:
– Đạo thừa tuyên: Nếu so sánh với Hồng Đức bản đồ thì số lượng các đạo thừa tuyên không thay đổi mà chỉ thay đổi về một số tên gọi. Đạo đôi khi được gọi là xứ hay lộ, như cách gọi của sử gia trong Đại Việt sử ký toàn thư: “đất 13 lộ thì cứ chiếu theo tên đất cũ, đều đặt ty Tuyên phủ, đặt các chức Tuyên phủ đồng tri, phó sứ, thiêm sự, mỗi chức đặt 1 viên” [12, 133]. 13 đạo gồm các đạo sau: Đạo: Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, Lạng Sơn, Ninh Sóc, Hưng Hóa, Tuyên Quang, An Bang, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam. Trong đó, mỗi đạo có ba chức quan chính đại diện cho ba cơ quan (chính sự, quân sự, giám sát)… với ba bộ phận, được gọi là Tam ty: Thừa ty, Hiến ty và Đô ty giống như thời Lê sơ. Điều này phù hợp với nhận xét của Trịnh Nhược Tăng – sử gia Trung Quốc: “Mạc Đăng Dung, ngoài chia các đạo, lập Thừa chánh ty, Hiến sát ty và Tổng binh ty” [63, 149]. Đây là mô hình từ thời Lê Thánh Tông được nhà Mạc kế thừa, cách thức tổ chức chính quyền ở các đạo như đã nêu trên góp phần không nhỏ để giải quyết các công việc mà chính quyền trung ương giao phó cũng như việc đảm bảo ổn định xã hội từng vùng miền trên quy mô rộng.Bảng 2. Tổ chức chính quyền địa phương dưới thời Mạc
Vì thế, trong giai đoạn đầu thịnh trị, hầu hết những vùng đất thuộc quyền cai quản của nhà Mạc – chủ yếu từ Ninh Bình trở ra Bắc đều ổn định và phát triển. Trong đó, những đạo thuộc phía Bắc biên giới như Lạng Sơn, Tuyên Quang, Ninh Sóc, Hưng Hóa, An Bang đều được nhà Mạc cai quản, kiểm soát đến tận biên giới giáp ranh với Trung Quốc và Lào, trong đó Trần Phỉ vừa là Thượng thư bộ Lễ vừa kiêm chức Thừa tuyên sứ Hưng Hóa (1538). Những đạo phía Nam như Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam cũng được các vị quan lại thân tín của Hoàng tộc nhà Mạc cai quản; Mạc Quốc Trinh trấn giữ dinh Hoa Lâm thuộc Tống Sơn (nay thuộc Hà Trung, Thanh Hóa), “Đăng Doanh phong cho hoạn quan là Trung hậu hầu (không rõ tên họ, người huyện Hoằng Hóa) làm đại tướng quân, sai đem binh mã thống quan ba phủ ở Thanh Hoa”, rồi “chia Thanh Hoa ra làm đôi… giao cho Lê Phi Thừa quản thống để khống chế Trung hậu hầu” [12, 126]… Trên phạm vi cả nước, kể cả những vùng biên viễn không có những cuộc biến loạn, ngay cả những nơi như Thuận Hóa cũng yên ổn, như nhận xét của Lê Quý Đôn: “Ngụy Mạc cướp ngôi, sai em là ngụy Tín vương Mạc Quyết coi đạo Thuận Hóa. Bấy giờ địa phương rối loạn, thổ hào đều đem quân đánh nhau, nghe nói Mạc Đăng Dung cướp ngôi và sai quan đến vỗ về, họ cũng tự yên” [16, 45]. Đặc biệt phải kể đến sự hưng thịnh của bốn đạo Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc và Hải Dương như lời thừa nhận của sử gia nhà Lê Trung Hưng sau này: Năm Nhâm Thìn (1532) “Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn” [15, 276].
Nhìn tổng thể trên phạm vi cả nước, các đạo dưới thời nhà Mạc dù với quy mô rộng lớn nhưng với sự quản lý của bộ máy nhà nước và được tổ chức quy củ nên hoạt động khá hiệu quả, tạo được một xã hội ổn định, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân.
–Phủ: Đứng đầu các phủ là Tri phủ và Đồng tri phủ. Nếu nhà Mạc vẫn theo pháp độ nhà Lê Sơ thì đương nhiên, chức tri phủ có chức năng xem xét lại việc kiện tụng ở cấp huyện, bên cạnh đó, các tri phủ còn có trách nhiệm cùng các quan lại có chức năng chăm lo việc giáo dục khoa cử và chú ý đê điều.
-Huyện: là đơn vị hành chính chịu sự quản lý trực tiếp của Phủ, những người đứng đầu huyệnđược gọi là Tri huyện và huyện thừa, nhà Mạc vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính này. Những người đảm nhận chức vụ trên có chức năng “khám tra các việc kiện về hộ, hôn, điền thổ, khảo thí học trò” [6, 31]. Theo đó, huyện quản lý các việc chính sự, trong đó, chịu trách nhiệm và có quyền lực đặc biệt quan trọng trong việc quản lý đất đai, thuế khóa và nhân đinh.
-Châu: Châu tương đương với huyện nhưng chỉ sử dụng ở vùng núi, biên viễn. Những người đứng đầu các châu đảm nhận nhiều trọng trách và gánh vác những công việc từ nhỏ đến lớn, trở thành cầu nối giữa nhân dân địa phương với triều đình, cai quản những vùng giáp ranh nên trách nhiệm của họ là rất lớn.
Theo nguồn tư liệu văn bia dưới triều Mạc, chức quan này được nhắc đến từ rất sớm, trên bia chùa Hương Nhan đã ghi lại tên tuổi vị Tri châu châu Đại Man năm 1537 là Nguyễn Công Quyết và vị Đồng tri châu châu Thu Vật thuộc đạo Tuyên Quang cùng năm đó là Bùi Bá Thông [63, 53]. Điều đó cho thấy, ngay những năm đầu sau khi lên nắm quyền, nhà Mạc đã ổn định được chính quyền và tổ chức chính quyền ấy hoạt động tận những vùng xa xôi của Tổ quốc. Họ đã ổn định cuộc sống và chấp nhận sự thay thế của vương triều mới. Đó là thành công ban đầu của nhà Mạc trong việc ổn định xã hội Đại Việt.
-Xã: là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền nhà Mạc, có thể coi là đơn vị hành chính cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền. Đứng đầu đơn vị này là Xã quan, nguyên tắc bầu: “Bầu ai phải là người đứng tuổi, có hạnh kiểm, không được bầu bậy bạ, mượn việc công kiếm lợi tư, kết hợp bè đảng, để hại đến phong hóa” [63, 164]. Đây là một trong những nhân tố giúp nhà Mạc ổn định được xã hội Đại Việt và được nhân dân theo về bởi bộ máy hành chính mà họ tạo dựng nên có sự vững chắc từ nền tảng của nó và từ cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền.
Bên cạnh xã, còn có thôn ở vùng đồng bằng, phường ở đô thị, sách, động ở vùng núi là những đơn vị cư dân thuộc đơn vị hành chính cấp cơ sở.
Đạo thừa tuyên, phủ, huyện (châu), xã là những đơn vị hành chính chủ yếu trong hệ thống hành chính dưới triều Mạc. Ngoài ra còn có một đơn vị trung gian giữa huyện và xã là tổng. Vào thời Lê, thời Mạc, thời Lê – Trịnh, tổng không phải là một đơn vị hành chính chính thức giống như đạo, lộ, châu, phủ, huyện, xã. Nó là sự liên kết giữa một vài xã cận kề có chung những đặc trưng về văn hóa, tín ngưỡng, địa lý để cùng làm thủy lợi, bảo trì và cúng tế tại một ngôi đình chung (đình tổng), hoặc chùa chung (chùa Tổng), chống trộm cướp. Nhiệm vụ của chính quyền tổng chỉ là đôn đốc thu thuế, giữ gìn an ninh. Muốn thực hiện được các nhiệm vụ này, chính quyền tổng không dùng các cơ quan của mình mà lại dựa vào chính quyền xã. Việc xuất hiện đơn vị tổng và được duy trì hoạt động dưới thời Mạc “thể hiện sự can thiệp sâu sắc thêm một bước của chính quyền trung ương đối với làng xã và người nông dân” [65, 134].
Dựa vào hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương của nhà Mạc trong thời gian ba vị vua đầu trị vì, ta có thể rút ra một vài nhận xét sau:
Nhà Mạc đã thành công trong việc tổ chức bộ máy nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trước khi Nam triều được thành lập (1533) và bắt đầu cục diện Nam – Bắc triều (1546), nhà Mạc nắm quyền cai trị và quản lý toàn bộ lãnh thổ Đại Việt, là chính quyền duy nhất đại diện cho nhân dân để giải quyết mọi việc trọng đại của quốc gia kể cả lĩnh vực ngoại giao, giao thiệp với Trung Quốc. Sự thống nhất trong bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương là một điều đã giúp nhà Mạc thành công trong việc ổn định xã hội Đại Việt, nhất là trong khoảng thời gian 20 năm đầu.
2.1.2. Chính sách ngoại giao
Kế thừa truyền thống các triều đại trước, sau khi lên ngôi nhà Mạc đã thực hiện trách nhiệm của một nước nhỏ, thần phục đối với thiên triều Trung Hoa. Cũng cần nhớ rằng: công việc bang giao trong điều kiện lịch sử bấy giờ của nhà Mạc là khó khăn và phức tạp, không như các sứ giả tiền bối đã làm trong giai đoạn cường thịnh. Lên ngôi sau một cuộc đảo chính, tiếp quản một xã hội mang trong mình sự khủng hoảng, trong nước còn bao thế lực thù địch sẵn sàng cấu kết với nhà Minh, nhà Mạc đã tiến hành một cuộc đấu trí để tránh binh đao, tàn sát thảm khốc để xã hội được thái bình, nhà Mạc không vội vàng đối đầu với quyết tâm xâm lược của nhà Minh để tránh một sự thất bại như nhà Hồ trước đây. Trước chủ nghĩa Đại Hán và âm mưu phù Lê của các thế lực trong nước, nhà Mạc đã thi hành những chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, linh hoạt, “trong thì xưng đế, ngoài xưng vương” để nhà Minh công nhận tính chính thống của vương triều
Thứ nhất: ngay sau khi lên ngôi, nhà Mạc đã chú ý tạo dựng mối quan hệ với nhà Minh để được thiên triều Trung Hoa công nhận.. Ngay sau khi lên ngôi, năm 1528 Mạc Đăng Dung đã cho người sang nhà Minh báo cáo: “ Con cháu nhà Lê không còn ai thừa tự, cho nên di chúc cho đại thần họ Mạc tạm quản việc nước, để yên nhân dân” [15, 267]. Việc làm này là cần thiết để được thiên triều công nhận tính chính đáng và tránh những hậu họa về sau. Thái độ nhún nhường, chấp nhận bổn phận nước nhỏ, phụ thuộc của nhà Mạc là điều có thể chấp nhận được và là cần thiết tại thời điểm bấy giờ.
Thứ hai: nhà Mạc tỏ ra kiên trì, chịu đựng một cách có nguyên tắc trong việc đáp ứng những yêu sách của nhà Minh. Trước thái độ trịnh thượng và quyết tâm xâm lược của vua Minh Thế Tông, “Đăng Dung cùng bọn bầy tôi thường bày đặt lời lẽ đối đáp, lại dùng vàng bạc đút lót những viên tướng nhà Minh giữ biên thùy, để nhờ họ che chở” [15, 267] hạn chế nguy cơ xâm lược đang đến gần. Thực tế là nhà Mạc ngoài việc cố gắng để nhà Minh công nhận tính chính thống, điều quan trọng hơn là nhà Mạc muốn tránh cuộc đụng độ nguy hiểm khi triều đại này và cả dân tộc chưa thể sẵn sàng một cuộc chiến vệ quốc trong hoàn cảnh hiện tại.
Trong khi đó, vua Minh Thế Tông tìm mọi cách gây hấn và đốc thúc việc xâm lược Đại Việt để trừng phạt nhà Mạc. Tháng 4 năm 1537 vua Minh giao cho bộ Lễ và bộ Binh bàn luận việc chinh phạt Đại Việt, trong đó có kể 10 tội lớn của Mạc Đăng Dung và bàn bạc kế hoạch cụ thể, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị quân số, nêu quyết tâm “tất cả sẵn sàng đang đợi lệnh” [38, 432]. Bên cạnh đó, nhà Minh đã bằng mọi cách để kích động mâu thuẫn làm suy yếu lực lượng của cả hai thế lực trong nước là Mạc và Lê Trung Hưng, đẩy nhà Mạc vào thế yếu, ép Mạc Đăng Dung đầu hàng và thực hiện theo yêu sách của chúng.
2.1.2.1. Đánh giá sự kiện đầu hàng của nhà Mạc năm 1540
Sử cũ chép: “Mùa đông tháng 11 (1540), Mạc Đăng Dung … qua trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ, đi chân không đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, giập đầu quỳ gối dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai quân dân quan chức trong nước để xin sử phân…” [12, 131]. Ngoại giao với Trung Hoa – từ trước đến nay, luôn là một vấn đề nhạy cảm và khá phức tạp, đánh giá về hành động của Mạc Đăng Dung có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên cần đánh giá một cách công tâm những gì nhà Mạc đã làm được đằng sau sự kiện này.
Vấn đề này cần được nhìn nhận khách quan hơn dựa trên cơ sở tình hình thực tế bấy giờ và những nguyên tắc ngoại giao trong thời phong kiến. Nếu chỉ đơn thuần là “hèn nhát”, “làm mất quốc thể dân tộc” thì không thể có việc nhà Mạc chú trọng xây dựng một lực lượng quân đội đông đảo và có nhiều ưu đãi cho lực lượng này, thậm chí dưới triều vua Mạc Đăng Doanh, triều đình vẫn tổ chức tập luyện sẵn sàng chiến đấu và nhiều lần tổ chức kháng cự ở biên giới khi quân Minh tiến gần. Hơn nữa, hành động đầu hàng nhà Minh của Mạc Đăng Dung sau hơn mười năm làm Hoàng đế đã cho thấy sự cố gắng của vị vua đầu triều Mạc trong suốt những năm cai trị, việc làm ấy dường như là giải pháp bắt buộc trong hoàn cảnh bấy giờ.
Nhà Mạc đầu hàng vì những lý do sau:
Trước hết, trong bối cảnh hiện tại, nhà Mạc đang phải đối phó với thực trạng đất nước hiểm nghèo: đất nước khánh kiệt sau khủng hoảng, sự tấn công của lực lượng chống đối, tính đến năm 1539, nhà Mạc đã phải liên tục đối phó với sự tấn công của các lực lượng ủng hộ nhà Lê sơ, đặc biệt, tháng 7 năm 1539 quân Mạc bị tướng Trịnh Kiểm đánh bại ở Lôi Dương, Thanh Hoa. Đó là chưa kể đến việc các lực lượng Lê cựu cho người sang nhà Minh tố cáo nhà Mạc. Thêm vào đó, tháng 5 năm 1539 mẹ của Đăng Dung là Đặng Thị qua đời, cộng với sự ra đi đột ngột của vị vua tài ba Mạc Đăng Doanh tháng 1 năm 1540 đã khiến hoàng tộc, đất nước trong tình trạng hết sức khó khăn, vì thế trong tình thế hiểm nghèo này, nếu muốn tránh cùng một lúc phải đương đầu với hai kẻ thù ở trước và sau lưng, nhà Mạc không còn cách nào khác là phải thương lượng với nhà Minh sau những nỗ lực không thành.
Thứ hai: Khi so sánh hai nghịch triều: Hồ, Mạc có điểm tương đồng về điểm khởi đầu nhưng khác nhau về kết cục dẫu cuối cùng cả hai đều suy vong sau một thời gian tồn tại. Nhà Hồ chỉ tồn tại trong 7 năm ngắn ngủi. Một trong những lý do thất bại là vì nhà Hồ đã vội vàng tiến hành một cuộc kháng chiến khi chưa đủ sức. Đại tư đồ Trần Nguyên Hãn (1324 – 1390) gương mặt nổi bật nhất có thể xem là cùng thời với Hồ Quý Ly từng nói (với vua Trần) rằng: “Xin bệ hạ kính nước Minh như cha, yêu nước Chiêm Thành như con thì nước nhà vô sự” [50, 226] đã cho thấy một chủ trương ngoại giao khôn khéo để tồn tại. Chính vì thái độ kiên quyết chống lại thiên triều Trung Hoa của Hồ Quý Ly, lại không được lòng dân là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thất bại của nhà Hồ. Mạc Đăng Dung đã chọn cho mình một giải pháp khác so với nhà Hồ để tránh một kết cục như thế.
Kết quả là năm 1541 nhà Minh công nhận sự chính thống của nhà Mạc và chiến tranh được đẩy lùi, nhân dân được hưởng cuộc sống yên bình không có ngoại xâm trong suốt thời gian nhà Mạc cai trị. Dẫu vậy, cũng cần hiểu rằng: vốn là một dân tộc được hình thành sau một quá trình đấu tranh gian khổ, với sự nghiệp dựng và giữ nước huy hoàng trải qua các triều đại, người Việt ý thức hơn bao giờ hết giá trị của chủ quyền, danh dự dân tộc. Trong thời kỳ phong kiến, việc làm của Mạc Đăng Dung và triều đại Mạc khó tránh khỏi bị lên án. Trước đó không xa, vua Lê Thánh Tông còn khẳng định: “Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”. Trên thực tế, bất luận lý do gì thì việc làm nhà Mạc vẫn làm tổn thương tâm lý của nhân dân đương thời và hậu thế. Tuy nhiên, liệu có việc nhà Mạc cắt đất dâng nhà Minh không là điều cần xác minh lại.
2.1.2.2.Vấn đề nhà Mạc cắt đất cho nhà Minh
Xuyên suốt các thời đại, vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là trọng trách thiêng liêng của các triều đại và nhân dân sống trên lãnh thổ Đại Việt, tuy nhiên, tồn tại bên cạnh một nước láng giềng hùng mạnh đầy tham vọng để thích ứng là không dễ dàng. Phân định rạch ròi diễn biến về vấn đề biên giới trong quan hệ với Trung Hoa từ xưa đến nay là điều khá nhạy cảm. Cho đến nay, việc nhà Mạc cắt đất thực hư thế nào và nên đánh giá ra sao đã được sử sách phân tích cụ thể và đánh giá công minh. Chúng tôi xin bổ sung một vài suy nghĩ về việc cắt đất của nhà Mạc như sau:
Chúng tôi đồng tình với kết luận của nhiều tác giả trong những nghiên cứu gần đây về vấn đề: Nhà Mạc không cắt đất cho nhà Minh. Trái với những quan điểm quá mức gay gắt, càng về sau càng xuất hiện những quan điểm lên tiếng “cần phải xóa cái án Mạc Đăng Dung trong lịch sử dân tộc”[63, 39]. Cùng một sự kiện nhưng sử sách ghi lại cũng khác nhau:
Sự kiện lịch sử năm 1540 qua nhiều nguồn tư liệu
Tài liệu gốc | Sự kiện lịch sử | ||||
Tên tài liệu | Năm soạn | Người ra biên giới hàng năm | Số người đi Yên Kinh | Số động trả cho nhà Minh | Những điều khác |
Thù vực | 1574 | Mạc Đăng Dung, Mạc Văn Minh, Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Thốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vinh và những người khác | 28 người: Mạc Văn Minh, Hứa Tam Tỉnh và những người khác | 4 động: Tự Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc 2 đô: Như Tích và Chiêm Lăng | – Biểu đầu hàng của Mạc Đăng Dung
– Lời tâucủa quần thần nhà Mạc – Lời tâu của Mao Bá Ôn |
Toàn thư | 1697 | Mạc Đăng Dung, Mạc Văn Minh, Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Thốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vinh và những người khác | Mạc Văn Minh, Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh và những người khác | 6 động:
Tư Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù thuộc 2 châu Vĩnh Yên và Yên Quảng |
|
Minh sử | 1735 | Mạc Đăng Dung, Mạc Văn Minh, cả thảy 42 người | |||
Thông sử | 1749 | Mạc Đăng Dung, Mạc Văn Minh, Nguyễn Như Quế và những người khác | Mạc Văn Minh, Nguyễn Giản Thanh, Hứa Tam Tỉnh và những người khác | 4 động: Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc 2 đô Như Tích, Chiêm Lãng | – Biểu đầu hàng của Mạc Đăng Dung
– Lời tâucủa quần thần nhà Mạc – Lời tâu của Mao Bá Ôn |
Cương mục | 1821 | Mạc Đăng Dung, Mạc Văn Minh, Nguyễn Như Quế cả thảy khoảng 40 người | Mạc Văn Minh, Nguyễn Văn Thái và những người khác | 6 động:
Tư Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù |
Nguồn tư liệu (Đinh Khắc Thuân)
Với sự khác biệt trong ghi chép về cùng một sự kiện đã tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều, sự lên án là không tránh khỏi. Nhìn nhận một cách khách quan, căn cứ vào những tài liệu gốc như: tờ biểu đầu hàng của Mạc Đăng Dung và tờ biểu tâu trình của quần thần nhà Mạc, cùng lời tâu của Mao Bá Ôn lên vua Minh, có thể chỉ ra cụ thể những vùng đất mà nhà Mạc trả lại nhà Minh là: bốn động Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm và Liễu Cát của hai đô Như Tích và Chiêm Lãng là đất cũ của Khâm Châu.
Khẳng định nhà Mạc trả lại đất cho nhà Minh là vì: bốn động nêu trên thuộc Khâm Châu nằm sát biên giới Việt Trung, xuất hiện khá sớm trong lịch sử từ những năm đầu công nguyên. Từ đời Tống đến đời Minh, các địa danh trên vẫn thuộc đất Trung Hoa, triều đình phương Bắc đã trao ấn tín giao việc cai quản đất đai vùng biên giới cho những người đứng đầu, trong đó, mỗi người đứng đầu được gọi là các “động chủ” triều Tống, từ triều Nguyên đến triều Minh đổi thành “động trưởng”. Dưới thời Minh, vào năm 1427, bốn động Tư Lẫm, Cổ Sâm, Kim Lặc và Liễu Cát có 29 thôn với 292 hộ. Tuy nhiên, có một sự kiện chi phối lịch sử hai nước sau này, đó là “Năm Tuyên Đức (1427), hai động trưởng động Tư Lẫm là Hoàng Kim Quảng và động trưởng động Cổ Sâm là Hoàng Khoan, cùng với Hoàng Tử Kiều, Hoàng Kiến kéo theo bốn động với 29 thôn, 292 hộ về An Nam” [63, 85], theo đó, động Cổ Sâm thuộc vào phủ Tân Yên và động Tư Lẫm thuộc vào phủ Vạn Ninh của Đại Việt lúc bấy giờ, các vị động trưởng này đều được nhà Lê phong thưởng chức tước. Nghĩa là những người đứng đầu những vùng trên đã sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam mà nhà Minh nhiều lần cho gọi về mà không thành. Tuy nhiên, theo lời tâu của Mao Bá Ôn, vào năm 1540 trước sự đe dọa quân sự của nhà Minh, các động trưởng này phải trở về sáp nhập như cũ. Điều đó chứng tỏ rằng, trước tình hình căng thẳng tột độ, khi quân Minh đã kéo đến sát biên giới Mạc Đăng Dung đã chấp nhận việc đã rồi, trả lại đất của bốn động trên về cho nhà Minh. Việc làm đó không có nghĩa Mạc Đăng Dung vô trách nhiệm với chủ quyền lãnh thổ mà trái lại cần hiểu đó là việc làm bắt buộc trong tình thế hiểm nghèo. Điều này không giống với việc “vua Chiêm Rudravarman III phải cắt 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) nhường cho nhà Lý để được tha về” [38, 136].
Một điều thú vị mà nhà nghiên cứu lỗi lạc Hoàng Xuân Hãn từng nêu lên có liên quan đến vấn đề đất đai vùng biên giới là: “Nhìn biên giới Tống – Việt trên bản đồ, ta sẽ thấy chỉ chừng 1∕4 biên giới Trung – Việt ngày nay là khá định: nghĩa là ảnh hưởng Lý và Tống tiếp xúc thực sự. Còn dư, về phía Tây, đều thuộc những bộ lạc hầu như độc lập, ai mạnh kẻ ấy cai quản” [45, 304], trong đó, “hai bên biên giới từ Bảo Lạc đến châu Vĩnh An giáp Khâm Châu sinh tụ nhiều dân tộc riêng biệt không phải Việt cũng không phải Trung Hoa. Cả hai nước Tầu và ta đều gọi chúng bằng tên chung: Man dân… nhưng cũng có những bộ lạc thỉnh thoảng bất bình vì một việc gì, đều bỏ đất này qua đất khác. Vì thế, cương giới ở vùng này vẫn còn lưu động” [45, 305]. Điều này cho thấy, vùng đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho nhà Minh thuộc vùng biên giới khó cai quản và cũng khó làm chủ, một khi nó đã thuộc về Trung Hoa từ lâu thì với sức lực của nhà Mạc bấy giờ, việc tranh chấp và giữ lấy vùng đất ấy là điều không dễ dàng và không thực sự cần thiết.
Như vậy, rõ ràng là nhà Mạc buộc phải trả lại bốn động thuộc hai đô về đất Khâm Châu của Trung Hoa trong tình huống hết sức khó khăn. Điều ý nghĩa hơn cả là nhà Mạc đã góp phần đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Minh, hoặc ít nhất nhà Mạc cũng đã có công lớn trong việc duy trì một nền hòa bình, độc lập cho đất nước trong suốt 65 năm trị vì.
2.2. VỀ KINH TẾ
2.2.1. Kinh tế nông nghiệp
Triều Mạc được thiết lập trong bối cảnh xã hội khủng hoảng trầm trọng, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nhà Mạc là khôi phục lại nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Trong một xã hội tiểu nông, nông nghiệp là lĩnh vực được nhà Mạc chú ý phục hồi và phát triển. Trong một chừng mực nhất định, có thể nói nhà Mạc đã ổn định được hoạt động sản xuất nông nghiệp và đảm bảo lương thực cho nhân dân trong địa bàn của mình thời gian đầu.
Những tư liệu về ruộng đất thời Mạc hầu như không được ghi lại cụ thể duy chỉ có lời bàn của Mạc Ninh Bang với Mạc Phúc Hải là nguồn tư liệu quý giá cho ta biết thêm về chính sách binh điền được áp dụng thời kỳ này. Tuy vậy, có thể khái quát một vài nét chính về ruộng đất dưới thời nhà Mạc như sau: dưới thời Mạc, ruộng đất gồm hai loại: ruộng công và ruộng tư, trong đó ruộng công được nhà nước sử dụng chủ yếu vào các hoạt động phân ruộng đất, ban thưởng, ruộng tư được thừa nhận và ngày càng chiếm ưu thế.
2.2.1.1. Ruộng đất công hữu
Ruộng đất công bao gồm các loại ruộng do nhà nước trực tiếp và gián tiếp quản lý, trong đó ruộng công làng xã chiếm một diện tích lớn.
– Ruộng công làng xã
Ruộng đất công là cơ sở kinh tế, chỗ dựa của làng xã trong các triều đại. Là loại ruộng có nguồn gốc lâu đời, đến thời Lê Sơ, nhà nước dần can thiệp vào quyền quản lý ruộng đất của làng xã. Nhà vua trở thành chủ sở hữu tối cao của toàn bộ ruộng đất trong cả nước và có quyền chi phối số ruộng đất trong lãnh thổ mình quản lý. Mặc dù làng xã có tính tự trị nhất định, tuy nhiên làng xã đã mất dần quyền sở hữu và trở thành bộ phận giúp vua quản lý số ruộng đất ấy. Đến thời Mạc, số ruộng công làng xã đã giảm đi khá nhiều nên việc nhà nước thực hiện phân chia ruộng cũng hạn hẹp hơn vì khi lên nắm quyền, sức mạnh của nhà Mạc chưa thể giành lại quyền sở hữu một diện tích đất đai lớn đang nằm trong tay các thế lực địa chủ quan lại thời Lê Sơ.
Việc ruộng công làng xã giảm đáng kể ảnh hưởng không nhỏ đến khẩu phần ruộng chia của mỗi nhân đinh trong làng, với khẩu phần ruộng được phân không đáng kể, đời sống nhân dân cũng gặp nhiều khó khăn hơn. Việc nhà nước sử dụng ruộng công làng xã để thực hiện chính sách binh điền với số quân trên 10 vạn đã xâm phạm nghiêm trọng đến ruộng đất công làng xã. Để đem lại ruộng đất cho các đối tượng trên, nhà Mạc thi hành những chính sách sau:
Chính sách Quân điền
Một trong những nhân tố giúp nhà Lê Sơ duy trì được hoàng quyền của mình đó là chính sách quân điền. Bên cạnh những hạn chế mang tính lịch sử của nó, chính sách ruộng đất này có nhiều mặt tích cực và được duy trì đến các triều đại về sau. Sở dĩ, khẳng định nhà Mạc thực hiện chính sách quân điền là vì, trong lời tâu của Mạc Ninh Bang lên vua Mạc Phúc Hải có nói đến việc chia ruộng cho nông dân làng xã “…còn bao nhiêu ruộng sẽ theo nhân số trong xã mà chia đồng đều” [15, 280]. Chính sách quân điền dưới thời nhà Mạc có điểm riêng biệt như sau: chính sách quân điền được thực hiện trong thời chiến nên phần lớn số diện tích dùng để thực hiện chế độ quân điền phải nhường chỗ cho chính sách binh điền và tứ điền nên số ruộng đem ban cấp cho các đối tượng nêu trên không nhiều như trước
Điều này mang lại hệ quả sau: chính sách quân điền là một biện pháp để nhà nước phong kiến can thiệp sâu tới làng xã và thực hiện nền quân chủ tập quyền một khi nó không được thực hiện triệt để sẽ dẫn tới việc nhà nước không thể quản lý chặt chẽ làng xã và dân cư trong các làng xã ấy. Điều này chúng ta đã thấy ở nhà Mạc, tính chuyên chế tập quyền của nhà Mạc mờ nhạt hơn hẳn so với nhà Lê Sơ. Bên cạnh đó, vì nông dân không được hưởng nhiều lợi ích từ chính sách quân điền, tư liệu sản xuất ít ỏi đã dẫn đến việc phát triển của các ngành nghề kinh tế khác mà điển hình là thủ công nghiệp và thương nghiệp.
Chính sách Lộc điền
Nhà Mạc tiến hành chế độ lộc điền là sự tiếp nối các chính sách lộc điền thời Lê Sơ (chính thức ban hành năm 1477). Hầu hết số ruộng này bị biến thành ruộng tư và được hợp thức hóa. Lên nắm chính quyền trong hoàn cảnh đó, nhà Mạc cần có những chỗ dựa đắc lực, chính sách lộc điền là nhằm mục đích đó, nhà Mạc ưu tiên hàng đầu cho gia đình hoàng tộc, công thần, quan lại, nhất là lực lượng binh lính đông đảo.
Chính sách Binh điền (hay còn gọi là ruộng lính) là nét nổi bật trong việc thực hiện chính sách lộc điền của nhà Mạc. Để thực hiện chính sách này nhà Mạc phần lớn phải sử dụng ruộng công làng xã phân chia cho binh lính. Với số lượng quân đông đảo, nhà Mạc không tránh khỏi việc động chạm đến quyền lợi của các thành viên làng xã. Tuy vậy, binh lính chiếm số đông trong làng xã ấy nên số ruộng được phân chia khá đồng đều đã góp phần duy trì một xã hội ổn định.
Việc thi hành chính sách lộc điền như thế nào có thể hình dung thông qua lời tâu của Mạc Ninh Bang với vua Mạc Phúc Hải: “…triều đình ưu đãi trung hiệu, trung sĩ rất hậu. Nhưng hạ thần thiết nghĩ: trong bọn trung hiệu, trung sĩ tất nhiên có kẻ hăng hái, có kẻ lười biếng… Vậy xin cho các quan tướng bản doanh, ra lệnh cho các quan bản huyện lấy công tâm lựa chọn bảo cư người nào tinh tráng khỏe mạnh và thiện chiến, làm hạng nhất, chia loại lấy thực số làm thành sổ cấp điền. Đồng thời các quan phủ huyện xã trưởng chiếu theo sổ cấp điền nói trên mà lập làm quyển sổ thứ hai, rồi đem ruộng nhất đẳng cấp cho hạng này trước để khuyến khích chiến sĩ” [15, 281]. Có thể nói, binh điền là một loại hình ruộng đất mang tính đặc thù của vương triều Mạc, “Nhà Mạc cố gắng ưu đãi quân sĩ, hình thành một chế độ ruộng lính” [62,187].
2.2.1.2. Ruộng đất tư hữu
Trước tiên, cần khẳng định rằng: dưới thời Mạc, ruộng đất tư hữu có điều kiện phát triển do hệ quả của triều Lê để lại. Tuy vậy sau khi lên nắm quyền nhà Mạc không có những biện pháp khống chế, ngăn chặn mà trái lại, nhà Mạc còn tạo điều kiện khuyến khích ruộng tư phát triển. Ngay cả chính sách binh điền nhà Mạc cũng không đụng chạm đến ruộng tư hữu. Nguồn tư liệu bia ký có ghi chép khá cụ thể về việc mua bán, cúng tặng ruộng đất thời kỳ này mà chủ yếu là ruộng của tầng lớp hoàng thân quốc thích nhà Mạc. Số ruộng nhà nước ưu đãi cho các đối tượng trên đều lấy từ ruộng công làng xã, dần trở thành ruộng tư khiến diện tích ruộng công ngày càng thu hẹp.
Mặc dù số ruộng tư hữu chiếm diện tích lớn nhưng ruộng tư dưới thời Mạc có đặc điểm là không có những chủ sở hữu lớn, số diện tích ruộng được phân phát cũng nhỏ lẻ, không phải là hàng trăm, hàng nghìn mẫu như thời Lê Sơ. Căn cứ vào số ruộng cúng tiến vào chùa của các thế lực có vai vế trong triều đình và xã hội thì thấy rằng số ruộng cúng của từng người là không đáng kể, nhiều nhất cũng dưới 40 mẫu, còn lại chủ yếu là một vài mẫu cúng cho chùa.
Một đặc điểm nữa là chủ sở hữu là phụ nữ chiếm tỉ lệ cao. Hầu hết trong danh sách những người cúng ruộng cho chùa, số lượng nữ chiếm đa phần bất kể họ xuất thân từ tầng lớp nào. Điều đó có nghĩa là nhà nước công nhận quyền lợi của họ đối với việc sở hữu và quản lý ruộng đất, chứng tỏ rằng nhà Mạc vẫn kế thừa tinh thần tiến bộ của bộ luật Hồng Đức và sự ảnh hưởng của Nho giáo trong giai đoạn này không còn mạnh mẽ như trước.
Có thể thấy rằng, dưới thời Mạc, số ruộng tư chiếm đại bộ phận ruộng đất trong cả nước, thậm chí theo tài liệu văn bia cho thấy, nhiều địa phương đại bộ phận ruộng đất đã bị biến thành ruộng tư, “dưới thời Mạc, ruộng tư chiếm tới 90% ở khu vực chùa làng Thánh Ân (Bắc Ninh), 88% ở làng Hòa Niểu (Hải Phòng), 79% ở đồng làng Phương Để (Nam Định) và 50% ở làng Hậu Bổng (Hải Dương)…” [63, 192]. Điều này vừa phản ánh mức độ chi phối của nhà nước trung ương đối với ruộng đất cũng như toàn thể nhân dân Đại Việt chưa thực sự mạnh mẽ. Song điều này lại phù hợp với quy luật của lịch sử, ưu thế của chế độ tư hữu trước chế độ công hữu cho thấy bước phát triển của xã hội.
– Ruộng chùa
Sự phục hưng Phật giáo khi nhà Mạc nắm quyền cai trị đã tạo điều kiện cho ruộng chùa gia tăng về số lượng. Ruộng chùa có nhiều nguồn gốc khác nhau, trong đó giai cấp thống trị cúng chùa một số diện tích đất không nhỏ. Điều này thể hiện sự khuyến khích của nhà nước và sự coi trọng của nhân dân đối với đạo Phật sau một thời gian mờ nhạt. Tuy nhiên, khác với thời kỳ Lý – Trần, thời Mạc diện tích ruộng chùa không đáng kể, hầu hết các chùa chỉ sở hữu số ruộng không quá 100 mẫu. Điển hình như chùa Thánh Ân (Bắc Ninh), chùa Pháp Vũ cũng chưa đầy 100 mẫu, còn lại chỉ độ vài mươi mẫu, thậm chí có chùa chỉ có vài mẫu.
Có thể nói, hai điều đáng lưu ý khi nhắc đến ruộng đất nông nghiệp thời Mạc là: Chính sách ban cấp lộc điền của nhà Mạc (binh điền) và sự phát triển mạnh mẽ của ruộng đất tư hữu. Hai yếu tố này đều tác động không nhỏ đến diện tích ruộng công làng xã và quyền lợi trực tiếp của nhân dân, tình trạng nông dân không có ruộng cày cấy trở nên phổ biến, đưa xã hội phát triển theo một chiều hướng mới, phát triển các ngành nghề thủ công và hoạt động thương nghiệp.
2.2.1.3. Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trước tiên cần khẳng định nhà Mạc rất quan tâm đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhà Mạc tiến hành nhiều biện pháp nhằm khuyến khích nông nghiệp phát triển như:
Để chăm lo nông nghiệp, nhà Mạc vẫn duy trì các chức quan ở mỗi địa phương là quan Khuyến nông sứ và Hà đê sứ. Cùng với sự góp sức của nhân dân, dưới sự chỉ đạo của nhà nước, nhiều đê điều đã được đắp và tu sửa trong thời kỳ này, cho đến nay “đê nhà Mạc” (đê Chân Kim – Kiến Thụy, Hải Phòng), đê Kinh Điền – An Lão, Hải Phòng, đê Hà Nam – Yên Hưng, Quảng Ninh) vẫn tồn tại trong tâm thức dân gian và còn để lại vết dấu. Đặc biệt, nhiều vùng còn đào các con kênh để thông nước tưới tiêu đồng ruộng tiêu biểu như kênh Núi Voi (An Lão), kênh Cái Giếng (Vĩnh Bảo)… Nhờ đó mà hoạt động sản xuất nông nghiệp khá phát triển. Cùng với việc chú trọng công tác đê điều, nhà Mạc không ngừng khuyến khích nhân dân mở rộng diện tích canh tác bằng việc khai khẩn đất hoang. “Nhà Mạc đã khai khẩn đất đai hàng ngàn mẫu. Những cánh bãi, khu đầm dọc các bờ sông Kinh Thầy, sông Hàn, sông Đá Bạc… lần lượt xuất hiện. hàng trăm mẫu rừng… cũng ra đời” [63, 355].
Kết quả của những chính sách trên đã thể hiện rõ trên sử sách. Gia phả họ Mạc làng Câu Tử huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng cũng ghi lại “Mạc triều hưng trị ,thiên hạ an bình .Phá điền trị thủy, nông phu ổn định nhi hòa cốc phong đăng” [41, 357]. Khung cảnh nhân dân được mùa no đủ cũng được các tác giả sống trong thời Mạc ghi lại: “Muôn năm khỏe đặt âu vàng. Phong triều vũ thuận bốn phương được mùa” [48, 184]. Tương tự, Phan Huy Chú cũng nhận xét: “Đăng Doanh, tính khoan hậu giản dị. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khóa. Bấy giờ được mùa, nhà no, người đủ trong nước gọi thời ấy là trị bình” [5, 180]. Nghĩa là: trong khoảng thời gian 10 năm từ 1530 – 1540 và có thể vị vua kế tiếp là Mạc Phúc Hải, những thành tựu đó vẫn được duy trì, nhân dân no đủ, cuộc sống yên bình.
Nếu ta so sánh với giai đoạn trước khi nhà Mạc lên nắm quyền, chỉ tính riêng trong khoảng giai đoạn cuối của nhà Lê Sơ cũng đủ thấy sự khác biệt. Sử gia nhà Lê từng nhận xét: “Khoảng năm Đoan Khánh… nông tang mất nghiệp” [12, 54], dẫn đến việc “nông dân thất nghiệp, trộm cướp nổi dậy” [12, 57], nghiêm trọng hơn có những năm đai hạn, “nhân dân chết đói nàm gối lên nhau”… đó là bức tranh đen tối của xã hội Đại Việt trước khi nhà Mạc lên nắm quyền. Chỉ sau vài năm trị vì, nhà Mạc đã làm được những điều ý nghĩa cho nhân dân Đại Việt, đó là “mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn” hay “trúng mùa luôn, thóc rẻ gạo hơn, thuế nhẹ dịch ít, ai nấy no đủ thư thái” [38, 466].
Có thể nói: trong khoảng thời gian đầu trị vì của ba vị vua đầu triều Mạc, nhà Mạc đã từng bước thành công với công cuộc ổn định xã hội của mình. Trong mô hình xã hội tiểu nông thì đó là một trong những thành tựu của nhà nước phong kiến, là một trong những nhân tố phản ánh khách quan nhất vai trò của nhà Mạc trong việc bình ổn xã hội sau một thời gian dài khủng hoảng.
2.2.2. Kinh tế thủ công nghiệp
Tương tự thời Lê Sơ, kinh tế thủ công nghiệp thời Mạc được phân thành hai bộ phận: thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp nhân dân. Nhà Mạc đã có công trong việc phục hồi lại nền kinh tế thủ công nghiệp và giúp lĩnh vực này bước vào một diện mạo mới.
2.2.2.1. Thủ công nghiệp nhà nước
Để phục vụ cho nhu cầu của hoàng cung với các vật dụng sinh hoạt hàng ngày cũng như trong hoạt động tín ngưỡng, lễ hội… triều đình luôn phải duy trì các tổ chức thực hiện công việc này. Khác với nhà Lê, “dưới thời Mạc, người thợ thực sự được coi trọng, hoàn toàn không phải là những công tượng bị o ép như ở thời Lê. Hơn thế, họ còn được khoản đãi, được ban phong hàm tước khá cao” [63, 204]. Nhà Mạc cũng có các giám, sở, cục và nha môn giành cho thợ thủ công như Thượng bảo giám, Lục Thanh giám, Khí giới doanh tạo sở, Tú lâm cục, Bách dâu cục… với nhiều chức vụ như Sở thừa, Tượng chánh, Thường ban, tượng phó, cục phó, tượng nhân…
Những sản phẩm thủ công nghiệp thời kỳ này khá phong phú, chủ yếu là các thể loại gốm, đạt đến trình độ tinh xảo, đẹp mắt và chuyên nghiệp hơn trước, được sử dụng khá phổ biến trong cung đình và các hoạt động giao hảo với Trung Hoa.
2.2.2.2. Thủ công nghiệp dân gian
Nhà Lê Sơ, thủ công nghiệp hoạt động khá hiệu quả với thợ thủ công nghề phụ và thợ thủ công chuyên nghiệp. Tuy vậy, các phường hội thời kỳ này vẫn là “một tổ chức mang nặng tính chất phong kiến và đến một trình độ phát triển nhất định của kinh tế hàng hóa thì phường hội có nhiều tác dụng tiêu cực kìm hãm sự phát triển của thủ công nghiệp” [37, 133]. Đến thời Mạc, hoạt động này có nhiều chuyển biến.
Theo nguồn tư liệu văn bia, hai nghề có thế mạnh dưới thời Mạc là nghề khắc đá và nghề làm gốm sứ. Thời kỳ này đã hình thành một số hiệp thợ tổ chức theo hộ gia đình hoặc phường thợ tổ chức theo làng. Trong đó, nổi tiếng thời bấy giờ là các làng thủ công như Bát Tràng (Gia Lâm), làng Kính Chủ, Hùng Thắng (Hải Dương), An Hoạch (Đông Sơn, Thanh Hóa)… Thăng Long cũng là nơi hội tụ nhiều thợ giỏi, hoạt động sản xuất khá tấp nập.
Sự thông thoáng của nhà nước thể hiện ở việc cho phép nhiều thợ thủ công tìm cho mình môi trường sản xuất phù hợp, di chuyển từ vùng này sang vùng khác hoặc tìm đến kinh thành đô hội để làm ăn như thợ đá An Hoạch (Thanh Hóa), bất chấp sự căng thẳng, đối đầu của hai triều đình phong kiến Lê – Mạc. Hay việc trên các sản phẩm thủ công gốm sứ hay bia đá đều được phép khắc tên tuổi, địa chỉ người sản xuất… điều này phản ánh thủ công nghiệp đã phát triển đến một trình độ nhất định.
Phương thức sản xuất có nhiều tiến bộ, bên cạnh nhiều hộ sản xuất theo mô hình cá thể, “đã xuất hiện những chủ thể lò thuê mướn nhân công và mang tính chất kinh doanh rõ rệt” [65, 171]. Với số lượng lớn gốm sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, các cơ sở sản xuất không thể duy trì phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như trước, việc sản xuất có sự phân công rõ với nhiều nhóm thợ: thợ chuyên chở đất về, thợ làm đất, thợ bổ củi, thợ gánh, thợ vuốt, thợ tiện, thợ nung… Điều đó phản ánh diện mạo mới của thủ công nghiệp thời kỳ này. Tiêu biểu như gia đình thợ đá họ Nguyễn ở An Hoạch (Đông Sơn, Thanh Hóa) với nhiều thế hệ và thành phần trong gia đình, dòng họ cùng tham gia các quy trình sản xuất, thợ gốm họ Đặng ở Hùng Thắng (Nam Sách, Hải Dương), thợ gốm họ Đỗ ở Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội)…
Có thể hình dung sơ đồ phát triển của thủ công nghiệp thời kỳ này như sau: trung tâm hoạt động sản xuất thủ công nghiệp là kinh thành Thăng Long, Thăng Long là nơi tụ tập nhân tài các phường thợ dân gian, khiến cho nơi đây dần dần hình thành các phường, các phố nghề, khiến 36 phố phường cổ truyền thêm nhiều nét phong phú, đặc sắc. Tiếp đó là các vùng lân cận như Hải Dương – đặc biệt là vùng Dương Kinh – đất căn bản của nhà Mạc cũng tấp nập với các hoạt động sản xuất đồ gốm. Vùng Ninh Bình đến Hà Tây chủ yếu là hoạt động của các thợ đá với nhiều bia đá được họ san khắc trong khu vực thời kỳ này. Ngoài ra, một số ngành vẫn được duy trì từ trước đến nay như ngành dệt – nổi tiếng với lụa La Khê, La Cả (Hà Tây), nghề sành, nghề nung gạch, nghề tre đan, nghề mộc đều cơ hôi phục hồi…
Như vậy, từ thành thị đến nông thôn, hoạt động sản xuất thủ công nghiệp khá tấp nập, hình thành các làng nghề, các phường thợ có chuyên môn, hoạt động hiệu quả. Thợ thủ công đã mang tính chuyên nghiệp, thoát khỏi sự bó buộc của đồng ruộng, mức độ trao đổi sản phẩm trong nước và với nước ngoài cũng sôi động hơn, mang tính hàng hóa chứ không mang tính tự nhiên như trước.. Những sản phẩm thủ công nghiệp không chỉ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của nhân dân mà còn phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, trong đó có nhiều tác phẩm đạt đến trình độ cao về nghệ thuật.
a. Đồ gốm – Sản phẩm thủ công đặc sắc thời Mạc
Trong số nhiều ngành thủ công nêu trên, gốm sứ là một thế mạnh dưới thời Mạc, trở thành biểu tượng mĩ thuật thời Mạc. Sản phẩm gốm sứ được sử dụng phổ biến và được dùng làm mặt hàng xuất khẩu nên ngày càng tăng về số lượng và hoàn thiện hơn về chất lượng, độ thẩm mỹ. Đây là một trong những ngành nghề tiêu biểu và thịnh đạt nhất thời Mạc với làng gốm truyền thống Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và gốm Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương). Các sản phẩm gốm có điều kiện lưu thông trên một địa bàn rộng lớn, có mặt ở hầu khắp các địa phương khu vực châu thổ sông Hồng và một số tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ.
Theo ông Nguyễn Đình Chiến, trong “Đồ gốm Việt Nam có văn minh ở thế kỷ X V- XIX”, nếu thế kỷ XV đồ gốm có minh văn chỉ có một tác phẩm duy nhất thì đến thời Mạc có đến 53 tác phẩm có minh văn, điều đó cho thấy mức độ chuyên nghiệp của thợ thủ công thời kỳ này. Họ đã được quyền tự xác định vị trí của mình trong xã hội cũng như phản ánh không khí dân chủ tự do trong giới thợ thủ công đương thời.
Sản phẩm gốm thời kỳ này đa dạng, phong phú, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và thờ cúng. Nhiều tác phẩm gốm sứ là bức trạm khắc trang trí như hình rồng, nghê, ngựa, chim thú trên các công trình kiến trúc tôn giáo, mô hình chùa tháp bằng gốm sứ. Hoa văn trên đồ gốm được trang trí theo các đề tài khác nhau như rồng, phượng, ngựa, hoạt cảnh người, cánh sen đứng và những cảnh thiên nhiên. Chất men phủ trên sản phẩm khá phong phú nhưng chủ yếu là men hoa lam và men hoa nâu. Nhìn vào sản phẩm gốm thời Mạc, ta vẫn thấy những nét riêng biệt, vừa mang phong cách đồ gốm Lý – Trần, vừa thoáng có nét đồ gốm Lê Sơ nhưng mang nét thoáng đạt của triều Mạc. Hầu hết các sản phẩm từ phục vụ cho quý tộc đến bình dân đều mang nét dân dã, chan hòa với tự nhiên và cuộc sống của nhân dân lao động.
b. Vùng sản xuất gốm
Ngoài Bát Tràng là vùng đất có truyền thống làm nghề gốm từ lâu đời, đến thời Mạc nhiều trung tâm sản xuất gốm sứ có từ những thế kỷ trước có điều kiện phát triển, đạt nhiều thành tựu và trở thành vùng chuyên sản xuất đồ gốm cung ứng cho cả nước và hoạt động xuất khẩu. Sở dĩ có thể gọi Hải Dương thời Mạc là vùng đất gốm vì: theo kết quả của công tác nghiên cứu gốm sứ Hải Dương và Hưng Yên được các nhà khảo cổ học và sử học cho thấy: nhiều trung tâm sản xuất gốm tại địa phương đã được phát hiện. Đến nay đã phát hiện và nghiên cứu bước đầu 14 di tích, thực chất là 14 trung tâm sản xuất gốm trên đất Hải Dương và Hưng Yên bao gồm: Trạm Điền, Vạn Yên, Bãi Trụ Thượng, Kiệt Đoài, Làng Gốm, Bến Linh Xá, Chu Đậu, Gốm Quao, Phúc Lão, Làng Gói, Làng Cậy, Bá Thủy, Hợp Lễ. Các trung tâm gốm sứ trên đã ngừng sản xuất từ thế kỷ XVII, XVIII, còn thế kỷ XVI trở về trước, đây vẫn là vùng chuyên sản xuất gốm có tiếng khắp trong và ngoài nước.
Hầu hết các di tích trên đều bám sát các bờ sông cổ, đây là những nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào, có truyền thống làm nghề gốm, nguồn nhân lực. Đặc biệt, nhờ có sự cởi mở của nhà nước trong hoạt động giao lưu buôn bán nên các cảng sông là nơi tập trung các mối trao đổi đồ gốm và vận chuyển đến các vùng khác. Tiêu biểu là gốm Chu Đậu và gốm Hợp Lễ.
Nhìn chung, trong giai đoạn từ 1527 đến 1546, gốm sứ là một thế mạnh nổi trội của nhà Mạc, đồ gốm vẫn được duy trì sản xuất và được ưa chuộng suốt thời kỳ tồn tại của nhà Mạc – ngay cả trong cảnh nội chiến ác liệt. Những sản phẩm gốm sứ đã trở thành mặt hàng không thể thiếu trong đời sống thường ngày cũng như trong hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam và được dùng trong việc cống nạp sang Trung Hoa cũng như xuất khẩu sang một số nước, trong đó có Nhật Bản và nhiều nước trong khu vực. Nghề gốm sứ – một nghề vừa mang tính kế thừa nhưng cũng mang sắc thái riêng của thời Mạc, tạo thành thế mạnh của Đại Việt trong thời gian này.
Trong khoảng hai mươi năm đầu của nhà Mạc, sự phát triển của thủ công nghiệp nhà nước và dân gian đã phản ảnh diện mạo ổn định của xã hội đương thời. Nhân dân yên tâm sản xuất và có điều kiện sáng tạo những sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường vừa có tính thẩm mỹ cao. Sản phẩm gốm có thương hiệu, có nguồn gốc rõ ràng thể hiện tính chuyên môn cao hơn trước. Có được điều đó là nhờ chủ trương cởi mở, thông thoáng của nhà nước, tạo điều kiện phát huy thế mạnh của từng vùng và từng nghành nghề, hơn nữa, nhờ có môi trường yên bình, an ninh đảm bảo. Khẳng định nhà Mạc có công trong việc ổn định xã hội giai đoạn đầu là vì lẽ đó.
2.2.3. Kinh tế thương nghiệp
Thương nghiệp thời Mạc phát triển mạnh mẽ, hoạt động thương mại trong và ngoài nước diễn ra tấp nập, mang lại quang cảnh phồn thịnh cho nhiều vùng miền trên cả nước và nhiều tầng lớp nhân dân. Sở dĩ, thương nghiệp thời gian này có điều kiện phát triển vì: trải qua 100 năm dưới sự trị vì của nhà Lê, nhà nước quân chủ ấy đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế công thương, người nông dân bị cột chặt vào ruộng đất, làng xã, phải theo nghề gốc (nông nghiệp), cấm không được theo nghề ngọn (buôn bán) và đương nhiên, thương nhân bị đẩy xuống hàng cuối của thang bậc xã hội. Chính vì vậy, nhà Mạc – vốn thoáng đạt trong cách nhìn kinh tế – xã hội đã tạo điều kiện cho nền kinh tế thương nghiệp phát triển dựa trên những thế mạnh của mình.
2.2.3.1. Hoạt động nội thương
Để hoạt động trao đổi buôn bán trong nước đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của nhân dân và nhu cầu nội tại của hoạt động sản xuất trong nước, nhà Mạc ngay từ đầu đã tiến hành những biện pháp hết sức tiến bộ, tích cực như mở chợ, tu sửa, xây dựng cầu đường, đúc tiền… phục vụ hoạt động buôn bán.
Theo tư liệu văn bia, dưới thời Mạc hệ thống giao thông được nhà nước chú trọng, nhà nước cùng nhân dân tiến hành tu bổ, xây dựng mới nhiều cây cầu phục vụ cho đời sống nhân dân. Giai đoạn này có 3 chiếc xây dựng, sửa chữa vào các năm 1530, 1534, 1543. Những chiếc cầu này chủ yếu được xây dựng trên các tuyến đường bộ từ Thăng Long đến các vùng lân cận ở đồng bằng sông Hồng. Việc xây dựng cầu cống là việc làm có ý nghĩa thiết thực cho đời sống nhân dân nên được triều đình khuyến khích, nhiều người cũng tự nguyện đóng góp xây dựng cầu, trong đó có nhiều người trong hoàng tộc và quan lại.
Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, giao thông đường bộ bị cản trở bởi địa hình phức tạp, nhờ có cầu việc đi lại của nhân dân tiện lợi hơn nhiều, hoạt động trao đổi buôn bán cũng thuận tiện hơn trước “Công việc hoàn hảo, muôn cảnh đều mới, vẻ đẹp hiện ra. Nhờ đó mà ngựa xe qua lại, hàng hóa lưu thông”, nhân dân “nhờ cây cầu này mà chở được nhiều củi, kẻ trăn trâu có chỗ tạm nghỉ ngơi”… [63, 218]. Đó là điểm đáng ghi nhận của vương triều Mạc.
Dưới thời Mạc, hệ thống đường bộ, đường thủy cũng được mở mang, ở khu vực Hải Dương, Hải Phòng hiện nay vẫn còn lưu lại dấu vết những đoạn đường nhà Mạc như trên đường số 18 (Quảng Ninh), đoạn đường Thảo Tân xuyên qua rừng Bãi Thảo chạy dài ven sông Lục Nam, nối tiếp các tỉnh phía Bắc, nhân dân địa phương vẫn gọi đó là “đường nhà Mạc, đầu Voi, quán Sé”…
– Chợ
Với một nền thủ công nghiệp phát triển rực rỡ, nhu cầu trao đổi, buôn bán là vô cùng lớn, chợ trở thành nơi trao đổi buôn bán cần thiết nhằm tiêu thụ số lượng sản phẩm lớn đồng thời cũng là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu giữa nhân dân trong và ngoài vùng. Chợ được nhà nước khuyến khích mở, đó là một thuận lợi để thông thương và phát triển kinh tế.
Năm 1530, chợ Cầu Nguyễn (Hưng Hà,Thái Bình) được mở do sắc lệnh của vua Mạc Đăng Doanh, đến năm 1542 chợ Tứ Kỳ (Tứ Kỳ, Hải Dương) tiếp tục được mở, chợ có quy mô khá lớn,hoạt động tấp nập. Riêng chợ Tứ Kỳ (huyện Tứ Kỳ, Hải Dương ngày nay) – nằm hoàn toàn ở giữa hệ thống sông Thái Bình, là một đầu mối giao thông quan trọng cả về đường bộ và đường thủy, tiếp giáp với nhiều vùng có nền kinh tế phát triển. Chợ thời Mạc chủ yếu là chợ làng hoặc chợ ven sông, ven đô, chưa xuất hiện các thị tứ, hoạt động buôn bán ở đô thị chưa thực sự sầm uất, tuy nhiên các chợ làng hoạt động khá tấp nập. Hàng hóa chủ yếu là các sản vật địa phương trao đổi lẫn nhau, riêng gốm sứ là mặt hàng không thể thiếu trong các phiên chợ và được vận chuyển đến nhiều cùng miền. Nhà nước cũng có những quy định hoạt động của chợ sao cho hợp lý, quy củ. Nhiều chợ làng hoạt động khá sôi động, một số chợ trở thành chợ chung cho nhiều làng và thành những làng buôn – nhất là những làng có thế mạnh về nghề thủ công lại có địa bàn thuận lợi, tiêu biểu như chợ Phù Lưu (Gia Lâm, Hà Nội), chợ Hiến Nam trở thành thị tứ Phố Hiến phát triển rực rỡ sau này. Sự thịnh vượng của đô thị Phố Hiến vào các thế kỷ XVII, XVIII chắc chắn có được nhờ một quá trình tích lũy và chuẩn bị trước đó dưới thời các vua Mạc. Vùng đất Dương Kinh là đất căn bản của nhà Mạc cũng phát triển sôi động hơn so với trước vì được nhà nước quan tâm và đầu tư.
– Tiền tệ
Tiền không chỉ là biểu trưng kinh tế của thời đại mà còn khẳng định tính chính thống của một triều đại. Nhà Mạc tồn tại với tư cách là một vương triều trong 65 năm với 5 vị vua nhưng hiện tại chỉ biết đến bốn loại tiền thông bảo là: Minh Đức thông bảo, Đại Chính thông bảo, Quảng Hòa thông bảo và Vĩnh Định thông bảo. Ngoài ra, bên cạnh đồng tiền thông bảo có kích cỡ lớn có giá trị biểu trưng về mặt chính trị hơn là giá trị sử dụng, còn có loại tiền gián – kích cỡ nhỏ, thông dụng. Vì những khó khăn buổi đầu thành lập và những cuộc chiến sau này với tập đoàn Lê Trịnh, việc đúc tiền của nhà Mạc gặp nhiều khó khăn, nguyên liệu chủ yếu là kẽm pha sắt.
Do sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động buôn bán nên đồng tiền được dùng trong hoạt động buôn bán, cúng chùa, song cũng chi phối mạnh mẽ con người và xã hội thời kỳ bấy giờ như lời thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Còn bạc, còn tiền còn đệ tử. Hết cơm, hết rượu hết ông tôi”. Mặt trái của đồng tiền trong xã hội nào cũng có, dưới thời Mạc cũng không tránh khỏi, tuy nhiên điều đó cũng phản ánh trình độ phát triển nhất định của hoạt động sản xuất và buôn bán thời gian này. Điều đáng tiếc là những người có khả năng sản xuất và buôn bán đương thời không tập trung đầu tư phát triển sản xuất để tăng lợi nhuận mà khi có số vốn nhất định, họ lại chú ý đến việc cúng chùa và những hoạt động tâm linh. Đó là nét khác biệt giữa phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng so với phương Tây trong thời điểm đó.
2.2.3.2. Hoạt động ngoại thương
Ngay từ đầu thời Mạc, ngoại thương đã có điều kiện phát triển và hoạt động khá tấp nập. Lý do: Do nhà Mạc vốn xuất thân dân miền biển nên họ có cái nhìn thoáng đạt về biển và biết khai thác nguồn lợi từ nó. Nhà Mạc tỏ ra không khắt khe trong việc mở rộng quan hệ giao lưu buôn bán với bên ngoài. Hơn nữa, cùng thời gian đó, nhà Minh chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài gần hai thế kỷ (từ 1371 đến 1567), là cơ hội tốt để hàng hóa Việt Nam đặc biệt là sản phẩm gốm sứ có điều kiện du nhập vào thị trường nội địa nhiều nước trong khu vực và thế giới với những sản phẩm đã trở thành thương hiệu thời kỳ bấy giờ là gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Hợp Lễ…
Các thương nhân đến mua hàng Việt Nam chủ yếu là thương nhân các nước Nhật Bản, Trung Quốc, các nước trong khu vực Đông Nam Á. Những thương điếm hoạt động tấp nập thời kỳ này chủ yếu là các cửa sông, cửa biển vùng đồng bằng sông Hồng. Có lẽ đây cũng là thời kỳ Phố Hiến bước đầu đi vào hoạt động trước khi nó trở thành một thương điếm sầm uất thế kỷ XVII. Bên cạnh đó, kết quả khảo cổ học tại vùng Dương Kinh và phụ cận còn cho thấy thời kỳ này đã diễn ra hoạt động trao đổi tấp nập tại các bến bãi, tiểu cảng ven sông, điển hình như di chỉ Minh Thị (Tiên Lãng), An Quý (Vĩnh Bảo), Làng Cũ (Cát Bà) [60, 77]. Cũng trên vùng đất Hải Phòng, Bạch Sa và Phương Đôi (Tiên Lãng) vốn là những làng ven biển trước đây, còn nhiều dấu tích của một thời kỳ những hoạt động hải thương tấp nập của tàu thuyền nước ngoài với những địa danh “phố” còn lưu giữ được cho đến ngày nay “Khu Phố”, “Khu Sau Phố”, “Vũng Chợ”, “Cửa Phố”… với những hiện vật gốm, ngói, gạch có niên đại thế kỷ XVI. Việc ra vào tiện lợi của các tàu thuyền nước ngoài không chỉ phản ánh sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên mà còn biểu hiện sự thông thoáng của nhà nước trong việc giao thương, đó là điềm khác biệt so với triều đại trước.
Cùng thời gian này, những phát kiến địa lý càng giục giã những nhà truyền đạo và nhà buôn đến với những vùng đất mới trong đó có Việt Nam. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, năm 1533, có nhắc đến việc giáo sĩ Ignatio vào Việt Nam mà không mấy khó khăn. Như vậy, thị trường Việt Nam có thêm những đối tượng trao đổi đến từ các châu lục khác và có thể trong quá trình truyền bá, sinh sống ở Việt Nam, họ cũng bị hấp dẫn bởi những sản phẩm gốm sứ của Việt Nam. Bởi vậy, sản phẩm thủ công nghiệp của Đại Việt tiếp tục được trao đổi với nhiều quốc gia và khu vực, thậm chí những mặt hàng ấy được lựa chọn và trở nên phổ biến ở một số nước, đặc biệt là Nhật Bản.
Nhìn vào nền thương mại Đại Việt trong thế kỷ XVI, đặc biệt trong giai đoạn đầu nhà Mạc, ta có thể khẳng định triều đình nhà Mạc không ức thương như một số vương triều khác mà thực tế nhà nước rất quan tâm và khuyến khích hoạt động này. Hoạt động nội thương và ngoại thương có nhiều khởi sắc, nhiều mặt hàng có thế mạnh như gốm sứ được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến, ưa chuộng. Nhân dân Đại Việt sau một thời gian khủng hoảng, được nhà nước quan tâm nên họ có điều kiện phát huy thế mạnh của mình, đời sống ổn định và đảm bảo hơn giai đoạn trước.
Sự phát triển của thương nghiệp trong thời gian này đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị cũng như đời sống nhân dân. Đô thị dưới thời Mạc tuy chưa thực sự phát triển, nhưng hoạt động thương nghiệp là nhân tố kích thích sự tập trung dân cư ở các trung tâm buôn bán như Thăng Long, Dương Kinh và một số trọng trấn. Đọc lại những câu chuyện trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ ta thấy phần nào diện mạo đô thị và lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời.
2.3. VỀ VĂN HÓA, GIÁO DỤC
2.3.1. Giáo dục khoa cử
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, trong một xã hội phong kiến theo mô hình học thuyết Khổng Tử với thang bậc xã hội “sĩ, nông, công, thương”, nhà Mạc không chỉ kế thừa truyền thống đó mà còn sáng suốt khai thác lực lượng xã hội này phục vụ cho mục đích cai trị và sự tồn tại dòng họ mình. Đồng thời trong cục diện Nam – Bắc triều bấy giờ, các ông vua nhà Mạc còn nhằm mục đích tranh giành ảnh hưởng đối với các nho sĩ đang chọn đường nên theo Mạc hay Lê. Như lời nhận xét của Phan Huy Chú, nguyên nhân dẫn đến thành công của nhà Mạc là vì “Nhà Mạc dẫu bận chiến tranh mà vẫn không bỏ thi cử vì thế được nhiều người tài giỏi giúp việc chống với nhà Lê, kéo dài đến hơn 60 năm. Ấy cũng là công hiệu của khoa cử đó” [7, 16].
2.3.1.1. Những biện pháp về giáo dục của nhà Mạc
Thứ nhất: Mạc Đăng Dung biết cách dùng người tài. Ngay sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung đã sử dụng các cựu thần, nho sĩ của nhà Lê để họ nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng, “trưng cầu con cháu các vị công thần thế gia”, “Đăng Dung muốn thu nhân tâm, bèn phong tặng tất cả các vị tiết nghĩa cựu thần” [15, 267]. Ngay sau đó, năm 1528, Mạc Đăng Dung phong chức những người từng phục vụ cho nhà Lê hoặc đỗ đạt dưới triều Lê. “Tất cả có 56 người đều được thăng trật và phong tước theo thứ bậc khác nhau” [15, 267]. Cách làm của nhà Mạc không giống các triều đại trước và sau đó, việc sử dụng đội ngũ quan lại, những người được đào tạo và đỗ đạt của triều đại cũ tham gia chính quyền mới tạo dựng là việc làm khôn ngoan, mềm dẻo để thu phục nhân tâm và tạo sự vững chãi cho vương triều mới.
Thứ hai: Nhà Mạc đã chú ý việc đào tạo nhân tài nhằm tạo dựng cho mình một lực lượng trí thức hùng hậu phục vụ cho hoạt động của vương triều. Hoạt động của Quốc Tử Giám vẫn được duy trì, vua rất quan tâm đến việc hoạt động của trường Đại học duy nhất bấy giờ của cả nước. Dù điều kiện chiến tranh nhưng việc học không bị nhà Mạc khống chế, gián đoạn mà nhà nước vẫn cố gắng duy trì việc học ở kinh thành và các trường tư ở địa phương. Ngay cả vùng Dương Kinh cũng trở thành vùng đất học, một số người soạn văn bia thường được ghi là “Hiệu sinh Dương Kinh”. Vì thế, tác giả Nguyễn Văn Sơn khi nghiên cứu về vùng đất này đã đặt vấn đề “Dương Kinh còn có thể là nơi có trường học song song với Quốc Tử giám ở Thăng Long” [60, 17].
Thứ ba: nhà Mạc tổ chức đều đặn các kỳ thi cử bất kể điều kiện khó khăn hay khi đang phải đối phó với kẻ thù. Trong khoảng thời gian từ 1527 đến 1546 mặc dù cuộc nội chiến chưa bắt đầu nhưng đây là thời kỳ khó khăn của nhà Mạc sau cuộc khủng hoảng cuối Lê kéo dài. Tuy vậy, trong gần hai thập kỷ, nhà Mạc tổ chức đều đặn tổ chức ba năm một kỳ thi. Với sáu kỳ thi tổ chức các năm 1529, 1532, 1535, 1538, 1541, 1544 nhà Mạc đã lấy đỗ 179 người, trong đó có những nhân vật tiêu biểu như: Nguyễn Bỉnh Khiêm (1535), Giáp Hải (1538) – những người đã có nhiều đóng góp cho vương triều Mạc và nền văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI.
Thứ tư: cũng như nhà Lê, nhà Mạc rất chú ý việc tôn vinh hiền tài và những người đậu đạt bằng việc ban thưởng cho những người trúng tuyển và cho lập bia đá. Do hoàn cảnh khó khăn nên trong 65 năm trị vì, dù đã tổ chức được 21 kỳ thi, lấy đỗ 460 tiến sĩ nhưng nhà Mạc chỉ lập được một bia đá vào kỳ thi đầu tiên năm 1529, hiện vẫn còn lưu giữ ở Văn miếu Quốc Tử Giám.
Trong nội dung văn bia tôn vinh những người đậu đạt trong kỳ thi do nhà Mạc tổ chức thể hiện khá rõ tinh thần trọng văn của triều đại và xã hội đương thời: “Bia này lập ở nhà Thái học không phải chỉ để nêu rõ lòng thành khuyến khích Nho học của Thánh thượng mà để còn vun trồng thế giáo, để khích lệ lòng người, trau dồi sĩ khí, mãi mãi không cùng và giúp cho học sinh ngày sau có thể mắt nhìn thấy, miệng đọc thấy đều cảm kích, phấn khởi. Lấy việc thi đậu mà tự hẹn, lấy việc giúp nước mà tự gánh, cùng nối gót ra đời làm cho quốc gia mãi mãi thái bình, thịnh trị…” [62, 34].
2.3.1.2. Nội dung giáo dục, tổ chức thi cử
Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ được coi là điển mẫu của nền giáo dục phong kiến Việt Nam, nhà Mạc đã học theo mô hình đó nên không có nhiều thay đổi về nội dung và cách thức tổ chức học và thi so với nhà Lê. Đó là sự tiếp tục củng cố nền giáo dục khoa cử mang nội dung Nho giáo mà nhà Lê đã dày công tạo dựng. Như vậy, các điển lễ Nho giáo, Bắc sử là nội dung đào tạo chính, dù là một triều đại tiến bộ nhưng với điều kiện xã hội bấy giờ, nhà Mạc chưa thực sự có những đổi mới trong giáo dục. Văn tự được sử dụng chính trong các kỳ thi là chữ Hán.. Chương trình đào tạo vẫn bó hẹp trong những điều xưa cũ đã trở nên không còn phù hợp trong tình hình mới, những lĩnh vực khác về khoa học, tính toán không được đưa vào giảng dạy và thi cử. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy và hành động của kẻ sĩ và xã hội đương thời, họ không dễ dàng chấp nhận những đổi thay trong xã hội với nền kinh tế có mầm mống tư bản chủ nghĩa và sự chi phối của đồng tiền. Phản ứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà trí thức tài ba của thế kỷ XVI trong những áng thơ văn và việc làm của ông cho ta thấy rất rõ điều đó.
Sống cách đó khoảng hai thế kỷ, tác giả Phạm Đình Hổ trong cuốn Vũ Trung tùy bút đã phân tích, đánh giá về giáo dục khoa cử thời Mạc như sau: “Khoảng đời Minh Đức (Mạc Đăng Dung), Đại Chính (Mạc Đăng Doanh), khí thế ngày càng kém…. Song thời Mạc còn chưa đến nỗi hủ lậu nên học vấn, văn chương, chính sự, công nghiệp cũng không kém cổ nhân mấy” [21,156-169]. Như vậy, giáo dục nhà Mạc có tính kế thừa nền giáo dục Lê Sơ và đạt nhiều thành tựu kể cả về số lượng và chất lượng kỳ thi.
Đánh giá khách quan về nhà Mạc, trong lĩnh vực giáo dục khoa cử, hai học giả người Mỹ Keith Weller Taylor và John K. Whitmore trong cuốn “Essays into Vietnamese pasts” có viết: “Mac Dang Dung was now where Le Loi had been a century earlier – he was the Founder and, as we have seen, such a one “brought peace, developed the culture, and honor talent”. Specifically, Dung declared that he rebuilt the educational system and “renewed” the examinations. In essence, this founder saw himself picking up where the Le Loi had left off” [77, 122]. Xin tạm dịch: vào thời điểm đó Mạc Đăng Dung ở vị trí của Lê Lợi cách đó một thập kỷ. Như chúng ta đã thấy ông là người mang lại hòa bình, người sáng lập và là người mở mang văn hóa và coi trọng người tài. Đáng chú ý là Dung tuyên bố ông cải tổ hệ thống giáo dục, cách tân thi cử. Về bản chất ông là người kế tục những gì mà Lê Lợi bỏ dở.
2.3.1.3. Những nhân vật tiêu biểu
– Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), ông người làng Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, cách Kiến Thụy – quê hương nhà Mạc không xa. Ông sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội có nhiều thăng trầm, gắn với sự thay đổi các triều đại, được chứng kiến gần trọn thời kỳ hình thành, phát triển và suy vong của vương triều Mạc. Thời thế đã tác động không nhỏ đến cuộc đời người trí thức tài ba của thời đại song tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gần suốt cả thế kỷ XVI. Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương loại chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”.
Năm Ất Mùi (1535) Nguyễn Bỉnh Khiêm tham dự thi và đậu Trạng nguyên ở tuổi tứ tuần dù đã qua cả thời kỳ tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, ông bước vào con đường công danh, thực hiện nghĩa vụ hành đạo của kẻ sĩ khá muộn. Lý do ông quyết định đi thi và làm quan cho nhà Mạc không chỉ nói lên sự tinh tường trong nhãn quan của một bậc đại thành tri thức mà còn thể hiện một niềm tin vào vương triều mới đang thành công trong công cuộc ổn định xã hội, đồng thời cũng nói lên sự chọn đường của trí thức thời đại bấy giờ.
Dẫu chỉ làm quan cho nhà Mạc trong vòng 8 năm nhưng triều đại mà ông từng cống hiến tâm huyết của mình vẫn trọng dụng và tìm đến như một người cố vấn trong những việc trọng đại của đất nước. Không chỉ có vậy, ngay cả những thế lực Lê – Trịnh, Nguyễn thù địch với vương triều Mạc cũng coi ông như một người có uy tín bậc nhất, nghe theo lời sấm ký của ông để chọn con đường đi cho mình. Quan trọng hơn, trong con mắt người đương thời, ông được tôn vinh như một bậc đại thành trí thức với tấm lòng ưu quốc ái dân sâu sắc, ông tựa như cây cổ thụ tỏa bóng xum xuê bao trùm cả nền văn hóa dân tộc thế kỷ XVI.
Mặc dù, con đường ông chọn được đánh giá theo nhiều cách khác nhau tùy theo lập trường và thời đại, nhưng những đóng góp của ông với triều Mạc, với lịch sử và nền văn hóa dân tộc là điều không thể phủ nhận. Có thể việc ông đưa ra lời khuyên cho ba thế lực phong kiến Mạc, Lê – Trịnh, Nguyễn dẫn đến những cách đánh giá khác nhau ở hậu thế, nhưng với một con người có tầm nhìn chiến lược và một tấm lòng vì nước vì dân như ông, ta có thể hiểu đó là cách tốt nhất để phân tán ba lực lượng, tránh một cuộc đối đầu làm khổ nhân dân – những con người mà suốt cuộc đời ông quan tâm, lo lắng, “Cho nên hành động ấy ngoài cái ý nghĩa triết lý của nó, còn có một giá trị nhân đạo chủ nghĩa” [31, 243].
Quan trọng hơn, ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn thơ đồ sộ với gần một nghìn tác phẩm bao gồm cả thơ chữ Nôm và chữ Hán, trong đó nổi bật là hai tập thơ “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”. Ngoài ra ông còn có nhiều đóng góp về mặt tư tưởng trong tiến trình phát triển hệ tư tưởng Việt Nam. Sự uyên thâm về Lý học của Trạng Trình là cơ sở quan trọng trong khả năng tiên tri và những lời sấm ngữ của ông mà cho đến nay người đời vẫn ca tụng. Đặc biệt, ông còn lưu danh sử sách bởi vai trò của một người thầy có những thế hệ học trò thành đạt, tiêu biểu như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan…
Nguyễn Bỉnh Khiêm được lịch sử tôn vinh và xác nhận vai trò người thầy mẫu mực của nền Khổng học Việt Nam thời trung đại, đó là điều đáng tự hào bởi trong hơn mười thế kỷ Nho học Việt Nam, cho đến nay mới có ba người được tôn xưng danh hiệu ấy, trước ông là Chu Văn An thời Trần, sau ông là Nguyễn Thiếp cuối Lê đầu Nguyễn. Chính vì thế, nói đến Nguyễn Bỉnh Khiêm “trước hết phải xét đến sự nghiệp của một bậc thầy về văn hóa, tư tưởng mà không phải mỗi thời đại đều dễ dàng tạo nên được” [31, 13].
– Trạng Kế Giáp Hải
Giáp Hải (1507 – 1585) (sau còn có tên là Giáp Trừng), hiệu Tiết Trai, người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc xã Dĩnh Trì, huyện Lạng Giang, Bắc Giang), còn gọi là Trạng Kế hay Trạng Ác do tính ông rất ngay thẳng. Ông đỗ Trạng nguyên năm Đại Chính thứ 9, Mậu Tuất (1538). Đến đời vua Mạc Đăng Doanh, ông làm đến Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Kế Khê Bá, Luân quận công. Năm 1566, ông được cử đi đón Lê Quang Bí đi sứ nhà Minh trở về. Những tác phẩm của ông để lại không nhiều nhưng công lao của ông được sử sách nhắc đến nhiều nhất là tài đối đáp trong hoạt động ngoại giao với kẻ thù, nổi tiếng là bài Vịnh Bèo lưu danh sử sách.
Đi sứ là một trọng trách đối với người được giao phó, Lê triều hình luật cũng quy định hình thức xử phạt đối với những ai không hoàn thành nhiệm vụ bởi đó là thể diện dân tộc. Vì vậy, đi sứ cũng gian nan vất vả, là cuộc đấu trí đòi hỏi phải là người cực kỳ thông minh, ứng xử linh hoạt. Giáp Hải là người đã đáp ứng được những tiêu chí đó và trên thực tế, ông đã hoàn thành sứ mệnh của mình một cách xuất sắc, không chỉ nền hòa bình dân tộc được kéo dài mà còn tôn vinh trí tuệ dân tộc Việt trong mắt kẻ thù. Bài thơ Vịnh Bèo với những lý lẽ thuyết phục, đầy bản lĩnh khí phách đã làm nhụt chí tiến công vào nước ta của tướng nhà Minh. Ông xứng đáng với lời ca ngợi của hậu thế: “Từ bút văn tôn danh lưỡng quốc, Hoa triền thọ diệu huyễn tam thai” (nghĩa là: Văn chương tài giỏi vang tiếng hai nước, tuổi như sao thọ sáng chiếu trong hàng tam công) [5, 221]
Có thể nói, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Kế Giáp Hải -“hai vị trạng nguyên sáng giá nhất của triều đại Mạc và của mọi thời đại Việt Nam” [2, 8] và nhiều trí thức khác được đào tạo và phục vụ cho nhà Mạc đều là những người tài năng và có nhiều đóng góp cho vương triều Mạc và lịch sử, văn hóa dân tộc thế kỷ VXI.
2.3.2. Văn hóa xã hội
2.3.2.1. Tôn giáo, tín ngưỡng
Sau một thời gian độc tôn Nho giáo dưới thời Lê Sơ, nhà Mạc mặc dù vẫn trọng Nho, coi Nho giáo là học thuyết để duy trì trật tự và ổn định xã hội theo tam cương, ngũ thường nhưng không độc đoán như trước mà cho phép Phật giáo và Đạo giáo phát triển song song, tạo nên hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” như từng diễn ra dưới thời Lý – Trần.
Việc Nho giáo mất dần vị trí quốc giáo và sự trung hưng của Phật giáo và Đạo giáo đã góp phần làm cho xã hội cởi mở hơn trong quan niệm và cách ứng xử trong cuộc sống. Xã hội không quá khắt khe với thành phần thương nhân, thợ thuyền cũng như công việc của họ, thậm chí đó lại là những lĩnh vực có thế mạnh dưới triều Mạc. Cùng với sự phục hồi trở lại của Phật giáo và Đạo giáo còn kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác như kiến trúc, văn học thuộc các tôn giáo, học thuyết trên. Những tác phẩm văn thơ, những công trình kiến trúc, những đặc trưng văn hóa cũng toát lên hiện tượng tôn giáo đó.
Phật giáo, Đạo giáo được phục hồi đã tái hiện một không khí thời Lý Trần sùng đạo Phật, hàng trăm ngôi chùa được sửa chữa, tu bổ, xây mới. Hàng nghìn người thuộc đông đảo các thành phần xã hội, từ vua quan, hoàng tộc cho đến người dân đều làm việc thiện, cúng tiến ruộng, tiền, vàng bạc cho chùa, thậm chí tiến hành tu sửa, dựng cầu cũng được coi là làm phúc. Nhiều sản phẩm thủ công nghiệp sản xuất ra cũng nhằm mục đích quan trọng phục vụ các hoạt động thờ cúng, tín ngưỡng…
Sau một thời gian đời sống bị bóp nghẹt bởi sự thống trị của những quy định Nho giáo ngặt nghèo, sau cuộc khủng hoảng kéo dài với bao tấn bi kịch, người dân Đại Việt thực sự cần một không khí cởi mở, thoáng đạt trong đời sống tinh thần vốn đã là đặc tính của văn hóa, con người Việt. Nhà Mạc đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân bằng việc không hạn chế Phật giáo, Đạo giáo mà tích cực tham gia vào các hoạt động tôn giáo này.
Bởi vậy, những trí thức thời Mạc cũng không nằm ngoài một hiện tượng từng diễn ra trong lịch sử dân tộc, họ được đào tạo chặt chẽ, nghiêm túc trong học thuyết Khổng Tử lại chấp nhận học thuyết Thích Ca và Lão Trang. Trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm hay một số trí thức cùng thời cũng phản ánh hiện tượng đồng nguyên tam giáo. Đó vừa là sự chọn lựa của kẻ sĩ trước nhiều ngả đường vừa là hiện thực xã hội dưới thời Mạc. Trong trường hợp đó, Phật giáo và Đạo giáo đã đáp ứng phần nào những bế tắc của trí thức trước thời cuộc.
– Đạo Thiên Chúa: Trong lịch sử phát triển đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, năm 1533 sử sách có nhắc đến sự kiện một giáo sĩ có tên là Ignatio đã đến Đại Việt và “lén” truyền đạo vào các xã Ninh Cường và xã Quán Anh thuộc huyện Nam Chân (Nam Định) sau đó mở rộng truyền bá đến xã Trà Lũ huyện Giao Thủy (Nam Định). Do bối cảnh lịch sử bấy giờ, cộng với sự nới lỏng trong chính sách của chính quyền nhà Mạc, sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp… việc truyền bá không gặp phải sự cấm đoán ngặt nghèo của triều đình phong kiến. Vì là một loại hình tôn giáo còn khá xa lạ với phong tục và truyền thống bản xứ nên việc truyền bá Thiên Chúa giáo không dễ dàng, tuy vậy, Ignatio đã thu được những thành công bước đầu trong việc gây ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo ở các địa phương trên. Giai đoạn sau, bản thân các giáo sĩ cũng phải thừa nhận rằng: “vả lại nước ấy không có lệnh cấm dị ngôn dị phục mà hiện nay thì hai họ Lê, Mạc đang tranh giành với nhau, trong nước nhiều việc không ai rỗi mà soát xét những việc nhỏ nhặt” [64, 192].
Dẫu không có những ghi chép cụ thể về sự tồn tại của loại hình tôn giáo mới mẻ này trong thời kỳ đầu tồn tại của nhà Mạc nhưng đó là một hiện tượng đáng chú ý trong quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo trong giai đoạn đầu ở Việt Nam.
2.3.2.2. Nghệ thuật, kiến trúc
– Văn học: Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong công cuộc ổn định xã hội nhưng trong giai đoạn đầu tồn tại, nhà Mạc đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực văn học, có nhiều đóng góp vào kho tàng văn học trung đại của nước nhà. Thành công của nhà Mạc trong lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những tác phẩm được sáng tác có giá trị mà còn ở việc thu thập những trước tác từ triều trước, như lời nhận xét của Lê Quý Đôn trong “Nghệ văn chí”: “Nước ta là một nước văn hiến… Đến đời rối loạn do Trần Cảo gây ra, kinh thành bị mất… giấy tờ sách vở rắc bỏ đầy đường. Đến thời ngụy Mạc dần dần những sách ấy được thu thập biên chép lại…” [38, 495].
Trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi, nhà Mạc vẫn đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực văn học với những tác phẩm đặc sắc, nhiều thể loại phong phú và nhiều tên tuổi nổi bật. Trong hai mươi năm đầu tồn tại, những tác giả như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Nguyễn Giản Thanh, Vũ Cán, Hoàng Sĩ Khải, Dương Văn An, Nguyễn Dữ… với nhiều sáng tác thuộc những thể loại khác nhau đã làm cho văn học Việt Nam thời kỳ này mang một diện mạo mới cả về nội dung và loại hình sáng tác.
Tiêu biểu nhất phải kể đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, cây đại thụ của nền văn học thế kỷ XVI với số lượng tác phẩm đến hàng nghìn bài thơ, trong đó có nhiều tác phẩm để đời với những triết lý, tình cảm mà tác giả gửi gắm. Đặc biệt, ông còn thể hiện rõ tinh thần dân tộc qua một số lượng những bài thơ Nôm đồ sộ khoảng hơn một trăm bài đã đánh dấu mốc cho sự phát triển và trưởng thành của tiếng Việt, duy trì sức sống cho nền văn học dân tộc trong thế kỷ XVI. Những sáng tác của ông được tập hợp trong hai bộ “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”, qua những sáng tác ấy, ta càng cảm nhận rõ hơn về tài năng và nhân cách của một nhà thơ, một người trí thức, một nhà tư tưởng mà nhân cách của ông tỏa bóng suốt thế kỷ XVI với “tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa nguôi”.
Thể loại văn học truyện ký thời kỳ này phải kể đến tác phẩm tiêu biểu là “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ. Truyền kỳ tuy không còn là thể loại mới trong giai đoạn này nhưng tác phẩm thực sự đã đánh một dấu mốc cho sự phát triển của loại hình văn học này và để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam. Không rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào (cùng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm) nhưng căn cứ vào một số tài liệu liên quan, có thể xác định tác phẩm được hoàn thành trong những năm 20 hoặc 30 của thế kỷ XVI. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ). Qua đó, vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, quan lại tham nhũng, đồi phong bại tục, đồng thời nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật… Dù xuất phát điểm của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia nhưng Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Chính vì vậy, có thể nói Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là “thiên cổ kỳ bút”, là áng văn hay của bậc đại gia, tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian.
Thể loại Vịnh cũng là một thế mạnh của văn học thời Mạc. Nhiều áng thơ văn đối đáp vừa thể hiện trí tuệ Việt Nam trước sự uy hiếp của kẻ thù vừa góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học dân tộc. Tiêu biểu nhất trong thời gian này có tác phẩm “Vịnh bèo” của Trạng nguyên Giáp Hải, “được đánh giá là một áng thơ tuyệt cú chống ý đồ xâm lược của phong kiến Trung Hoa”, “là viên ngọc sáng của lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam” [38, 496] với những câu đối đáp bất hủ.
Nội dung sáng tác thời kỳ này cũng có phần khác trước, không phải là những mảng ca tụng triều đình như thời Lê Sơ mà là những tác phẩm gần gũi, chan hòa với đời sống nhân dân lao động và thiên nhiên… Đó chính là nét riêng trong lĩnh vực văn học dưới thời nhà Mạc.
Có thể nói, văn học giai đoạn đầu nhà Mạc đã có những thành tựu đáng kể với nhiều tên tuổi được xếp vào những tác giả tiêu biểu của thế kỷ XVI như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), Vũ Cán (1475 – ?), Nguyễn Giản Thanh (1428 – ?), Lê Quang Bí (1506 – ?), Giáp Hải (1507 – 1585), Bùi Vịnh (1508 – 1557), … là những người cuộc đời và sự nghiệp gắn bó chặt chẽ hoặc ít nhiều có quan hệ ràng buộc với vương triều Mạc. Dẫu bề bộn với công cuộc ổn định xã hội và phải đối phó với sự nghiệp Trung Hưng thì nhà Mạc vẫn tạo dựng được một đội ngũ nho sĩ đông đảo và có được những tác giả văn học ưu tú.
– Kiến trúc: Trong khoảng thời gian hai mươi năm đầu trị vì, sử sách ít nhắc đến những công trình kiến trúc nổi bật được xây dựng dưới triều Mạc, nếu có cũng không đáng kể về quy mô và số lượng như các triều đại khác. Thực tế mà nói, so với các triều đại trước đó, những công trình được xây dựng dưới thời nhà Mạc có số lượng ít hơn và quy mô nhỏ hơn. Những công trình được xây dựng và tu bổ trong thời gian này chủ yếu tập trung ở Kinh thành Thăng Long, Dương Kinh (quê hương nhà Mạc) và một số vùng phụ cận. Nhà nước và nhân dân chủ yếu đầu tư tiền bạc và công sức cho việc xây thành lũy, chùa chiền, đạo quán và xây đình làng ở một số làng quê.
Sở dĩ số lượng và quy mô các công trình xây dựng trong thời gian này không đáng kể vì lý do sau: thứ nhất: do nhà Mạc lên nắm quyền sau một cuộc khủng hoảng xã hội nên đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Thứ hai, nhà Mạc phải dồn sức đối phó với các lực lượng nhà Lê và âm mưu thôn tính của phong kiến Trung Hoa… Hơn nữa, nhiều công trình không còn để lại dấu vết do sự phá hủy của Chúa Trịnh sau khi đánh bại nhà Mạc năm 1592.
Tuy nhiên không vì thế mà trong lĩnh vực này nhà Mạc không có những thành tựu, trên thực tế nhà Mạc để lại những dấu ấn mang phong cách riêng, độc đáo.
Đặc trưng kiến trúc Dương Kinh: Nhà Mạc tiến hành xây dựng Dương Kinh không chỉ nhằm mục đích là nơi nghỉ dưỡng hay đặt lăng tẩm, điện miếu như nhà Lý, nhà Trần và nhà Lê sơ, nhà Mạc luôn chuẩn bị cho mình tâm thế để đối phó với các lực lượng đối kháng, tuy nhiên, nhìn vào quần thể kiến trúc được khôi phục lại dưới thời nhà Mạc thì Dương Kinh không có nhiều thành quách, nếu có cũng chỉ đơn giản, không kiên cố. Tuy vậy, “Dương Kinh cũng chắc chắn có một quần thể kiến trúc khá rộng lớn mà vết tích trải trên một diện tích hàng vạn mét vuông” [60, 104].
Vì sao nhà Mạc không xây dựng thành quách trong bối cảnh đó là điều cần làm sáng tỏ, có thể đoán định do tình hình khó khăn bấy giờ, hơn nữa để tránh hao tổn sức dân. Tuy vậy, khi lên ngôi Hoàng đế, nhà Mạc đã biến quê hương của mình xứng tầm một đế đô với nhiều hạng mục công trình, tiêu biểu là các cung điện, lăng tẩm và chùa chiền, trong đó làng Cổ Trai được coi là trung tâm của Dương Kinh xưa với nhiều quần thể kiến trúc khác nhau và quy mô khá lớn.
Các điện tiêu biểu được xây dựng thời gian này là điện Hưng Quốc, điện Phúc Huy, điện Tường Quan, là nơi đi về và nghỉ dưỡng của Mạc Đăng Dung từ khi ông còn là một võ quan trong triều đình nhà Lê cho đến khi trở thành Thái Thượng Hoàng. Tại đây, ông vẫn cùng con cháu quyết định và chi phối công việc triều chính. Các điện được xây dựng và quy mô lớn thế nào sử sách không chép lại nhưng những di chỉ còn để lại và theo truyền thuyết dân gian thì “các kiến trúc đó hẳn là to lớn và trang trí rất đẹp” [60, 104].
Có thể nói, sau khi lên ngôi, điều ý nghĩa nhất mà nhà Mạc đã làm được cho quê hương của mình đó là biến nơi này trở thành một vùng sầm uất, xứng tầm là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của đất nước, có thể coi đó là kinh đô thứ hai của nhà Mạc. “Dương Kinh được xây dựng trên chính quê hương nhà Mạc… được xây cất công phu và đẹp, mang tính chất một đô thị ven sông – biển đầu tiên của Việt Nam” [60, 180].
Đặc trưng kiến trúc chùa Mạc: Sự phục hưng của Phật giáo thời Mạc đã tạo điều kiện cho nhiều công trình kiến trúc Phật giáo được xây dựng mới hoặc tu bổ. Dưới thời Mạc đã xây dựng và tu bổ 142 chùa, trong đó chủ yếu là trùng tu lại dựa trên nền chùa cũ. Trong hai mươi năm đầu, số chùa được xây mới và tu bổ không nhiều như giai đoạn sau, ngay cả Mạc Thái Tổ sau khi qua đời cũng không lập đàn chay cúng Phật. Tuy nhiên, trong thời điểm đó, chùa chiền là một phần không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của đại bộ phận dân chúng. Có thể kể tên một số chùa được trùng tu trong thời gian này như chùa chùa Cập Nhất (Động Ngọ tự) ở Thanh Hà (Hải Dương) được tu sửa kiến trúc vào năm 1530 và 1536, chùa Bối Khê ở Thanh Oai (Hà Tây) được tu sửa, tô tượng năm 1527, chùa Trà Phương (Kiến Thụy, Hải Phòng)… Chùa thời Mạc thường có quy mô nhỏ do điều kiện kinh tế cũng như những khó khăn mà cuộc nội chiến đưa lại, tuy vậy chùa chiền đã đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhân dân thời điểm đó.
Trong chùa, ngoài cấu trúc theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, hệ thống tượng thờ trong chùa cũng khá phong phú, không chỉ là các bức tượng Phật mà còn có tượng vua (Mạc Đăng Dung) ở chùa Trà Phương, tượng Thái hậu (bà Nguyễn Thị Ngọc Toản – vợ Mạc Đăng Dung), tượng các công thần (Mạc Đôn Nhượng)… thể hiện công lao của họ đối với quê hương, đất nước cũng như phản ánh những đóng góp của họ trong việc mở mang, xây dựng chùa chiền. Đây là điều khá mới mẻ trong việc thờ cúng cũng như trong cách bài trí tượng trong chùa dưới thời Mạc. Tượng chủ yếu làm bằng chất liệu gỗ tốt hoặc đá, nhìn một cách tổng thể, “các tượng của thế kỷ XVI mang nhiều nét gần gũi, đầy tính nhân bản và kế thừa nhiều nét từ cách tạo tượng thời Lý với khuôn mặt hiền dịu, vai nở bụng thon nhỏ” [38, 511] tạo nét gần gũi và hài hòa.
Như vậy, văn học, kiến trúc của các công trình được xây dựng dưới thời Mạc như Dương Kinh, hệ thống chùa, đình làng… là những nét nổi bật dưới thời Mạc. Sự cởi mở, phóng khoáng trong tư tưởng cũng như thiết chế đã tạo điều kiện cho các lĩnh vực nghệ thuật và đời sống tinh thần của nhân dân có nhiều khởi sắc. Nhà Mạc đã tạo cho mình một phong cách riêng và có những thành tựu đáng kể trong tiến trình phát triển lịch sử văn hóa dân tộc.
Tựu chung lại, những thành tựu nhà Mạc đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội cho phép ta khẳng định, sau một thời gian khủng hoảng cuối thời kỳ Lê Sơ, xã hội Đại Việt đã dần đi vào ổn định dưới sự trị vì của các vị vua đầu triều Mạc. Dẫu lịch sử và quan điểm phong kiến khắt khe có bôi đen những thành tựu ấy thì cũng không thể phủ nhận những nỗ lực của vương triều mới trong việc ổn định xã hội Đại Việt. Thay thế cho bức tranh hỗn loạn, đen tối cuối thời Lê Sơ với nạn đói, với những làng quê tiêu điều sơ xác, với những phong trào nông dân khởi nghĩa hay cuộc tranh giành đẫm máu giữa các lực lượng đối lập là một xã hội yên bình, mùa màng tốt tươi, nhân dân no đủ, thái bình. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng, nhà Mạc là một triều đại chính thống như bao triều đại trước đó, là triều đại đã có công lao trong việc ổn định xã hội Đại Việt trong nửa đầu thế kỷ XVI.
CHƯƠNG 3.
NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ MẠC
3.1. NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN
Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, Mạc Đăng Dung – “người đã khai thông nút ách tắc của lịch sử vào đầu thế kỷ XVI” [41, 62] đã sáng lập ra vương triều Mạc và tiến hành công cuộc ổn định xã hội trong suốt thời gian thời gian trị vì. Những thành tựu mà nhà Mạc đạt được trong hai mươi năm đầu với công lao của ba vị vua Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh và Mạc Phúc Hải trên hầu khắp các phương diện là điều không thể phủ nhận. Vậy, lý do nào khiến nhà Mạc lại không thể phát huy được những thành tựu đó và chấp nhận thất bại trong giai đoạn sau này? Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như: sự chống đối của các thế lực ủng hộ nhà Lê với việc sử dụng chiêu bài “phù Lê diệt Mạc”, sự đe dọa, uy hiếp từ phong kiến Trung Hoa… thì sự thất bại của công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc trong hai mươi năm đầu và sự sụp đổ của nhà Mạc sau 65 trị vì còn có căn nguyên từ nội tại nhà Mạc.
Đi tìm những nguyên nhân dẫn đến sự bất thành của nhà Mạc, cần thẳng thắn thừa nhận rằng: nhà Mạc ngay trong hai mươi năm đầu đã mắc phải những sai lầm và bộc lộ những yếu điểm. Một số nhà nghiên cứu cũng đã bước đầu chỉ ra những căn nguyên thất bại của nhà Mạc như sau:
1. PGS. TS Nguyễn Danh Phiệt: “… vương triều Mạc vẫn bám theo lối mòn, đeo đuổi một hào quang đã lùi về quá khứ để không bao giờ đạt được. Điều này đã khiến cho lòng tin ban đầu của nhân dân đối với vương triều Mạc giảm dần” [51, 8] và “vương triều Mạc sau bước khởi sắc ban đầu, từ Mạc Phúc Nguyên trở đi lại sa vào vết xe đổ của thời Lê sơ buổi suy tàn: Mâu thuẫn nội bộ, vua tôi chia lìa, chính sự đổ nát, quan lại tha hóa, lòng dân ngao ngán. Nội tình như vậy làm sao còn giữ được lòng dân; một khi đã mất dân thì đất cũng không giữ nổi” [51,10].
2. Nguyễn Đức Nhuệ: “Nhà Mạc đã có một thời gian dài, một cơ hội lớn để hội tụ được đông đảo tầng lớp nho sĩ, nhưng càng về sau thì chính nhà Mạc từ chỗ chính sự bỏ bê, kỷ cương rối loạn, hình ngục oan uổng, pháp lệnh sai lầm… đã đẩy lực lượng này về phe đối lập và do đó điềm mất nước đã biểu hiện, sự thất bại là điều không tránh khỏi” [41, 169 – 170].
3. Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh: “Có điều nhà Mạc trong thực tế đã không đáp ứng được hoàn toàn mong ước của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhà Mạc cho phát triển nghề buôn…. nhưng đồng tiền cũng phát huy mặt trái của nó… thêm nữa giai tầng quý tộc quan liêu nhà Mạc dần dần lại trở lại thói hư tật xấu muôn thuở của vua chúa mọi triều đại và điều quan trọng hơn họ không đủ sức chế ngự các lực lượng chính trị khác để thống nhất đất nước” [ 31, 16 – 17].
4. GS. Phan Huy Lê: “Bản thân triều Mạc cũng thoái hóa nhanh chóng. Vì vậy, sau 8 năm phò tá triều Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ đàn hặc và xin chém 18 tên lộng thần. Nhưng vua Mạc không nghe nên ông bỏ quan về quê nhà” [31, 66].
5. Cố GS. Trần Quốc Vượng: “Nhà Mạc không đề ra và không thể đề ra một hệ tư tưởng gì mới. Đấy là chỗ yếu kém của tầng lớp thống trị, từ đời Lê đã vay mượn hệ tư tưởng Tống Nho” [41,25].
6. “Nhưng kết cục Nam triều đã thắng Bắc triều vì:… chính sách đối nội, đặc biệt là chính sách đối ngoại phản động của nhà Mạc làm cho mọi tầng lớp nhân dân chán ghét nhà Mạc, giúp cho Nam triều có lý do tuyên truyền, huy động nhân dân theo Nam triều đánh Mạc” [55, 78].
7. GS. Mạc Đường: “ Sự suy vong của triều Mạc… có nhiều nguyên nhân. Nhưng, nguyên nhân chủ yếu nhất là sự phân liệt sâu sắc trong triều Mạc khi có hai phái lập ra hai triều đình nhà Mạc chống đối và đánh nhau, kể từ khi Mạc Phúc Nguyên lên ngôi vua, khiến cho lòng người hoang mang cực độ” [17, 96].
Từ những sai lầm và hạn chế nêu trên của nhà Mạc, qua việc tìm hiểu về nhà Mạc, chúng tôi mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự thất bại của nhà Mạc như sau:
– Hạn chế trong chính sách đối ngoại
Năm 1538, nhà Mạc sai Nguyễn Văn Thái sang nước Minh dâng biểu xin hàng và xin xét xử. Tháng 11 năm 1540, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh cùng bề tôi đến cửa ải Nam Quan, “mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ, đi chân không đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, giập đầu quỳ dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai quân dân, quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động…. xin cho nội thuộc,… lại xin ban chính sóc, cho ấn chương…. Lại sai Văn Minh và bọn Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng đến Yên Kinh” [12, 131 – 132]. Dẫu sử sách đã minh oan cho hành động của Mạc Đăng Dung, cho rằng hành động của Mạc Đăng Dung thể hiện sự mềm dẻo, “thần phục giả vờ” để ngăn chặn một cuộc chiến không cân sức, và việc nhà Mạc cắt bốn động Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm và Liễu Cát của hai đô Như Tích và Chiêm Lãng là đất cũ của Khâm Châu thực chất là trả lại những vùng đất vốn trước đây thuộc đất của Trung Hoa nhưng đặt hành động này trong bối cảnh thế kỷ XVI cũng như trong suốt dòng chảy của lịch sử dân tộc, hành động của nhà Mạc đã làm tổn thương đến danh dự của một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất. Tình thế buộc Mạc Đăng Dung phải nhún nhường trước những yêu sách của kẻ thù để đổi lấy hòa bình để có điều kiện tiến hành công cuộc khôi phục lại đất nước nhưng hành động đó trở thành yếu điểm để các thế lực phò Lê lợi dụng tuyên truyền, kêu gọi nhân dân chống đối lại nhà Mạc. Đồng thời, theo sự ghi lại của sử sách thì “hành động của nhà Mạc đã gây sự căm ghét, phẫn nộ sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân” [55, 74]. Điều này hoàn toàn dễ hiểu trong một xã hội thấm nhuần đạo đức Nho giáo và giàu truyền thống yêu nước như Đại Việt.
– Nhà Mạc đã không khai thác được sức mạnh của đội ngũ trí thức
Trong hơn hai mươi năm đầu, nhà Mạc tổ chức đều đặn tổ chức ba năm một kỳ thi. Với sáu kỳ thi tổ chức các năm 1529, 1532, 1535, 1538, 1541, 1544 nhà Mạc đã lấy đỗ 179 người, trong đó có những nhân vật tiêu biểu như: Nguyễn Thiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải… – những người có nhiều đóng góp cho nhà Mạc và lịch sử văn hóa dân tộc thế kỷ XVI. Trong 65 năm cai trị, nhà Mạc đã tổ chức được 21 khoa thi Hội với 484 tiến sĩ, lấy đỗ 11 Trạng nguyên, bên cạnh đó là hàng ngàn cử nhân qua các kỳ thi hương ở địa phương – chỉ đứng sau nhà Lê sơ. Trí thức trong mọi thời đại luôn là chỗ dựa cho nhà nước, nhà Mạc đã trọng đãi người tài để cạnh tranh nhân tài với nhà Lê Trung Hưng, tuy nhiên, điều đáng tiếc là nhà Mạc càng về sau càng không thành công trong việc sử dụng đội ngũ trí thức phục vụ cho triều đại mình.
Năm 1529, nhà Mạc tổ chức kỳ thi đầu tiên đã thu hút đến hơn 4000 thí sinh dự thi trong đó có những người từng được hưởng nền giáo dục nhà Lê sơ trước đây. Ba kỳ thi 1532, 1535 và 1538 nhà Mạc đã thành công xuất sắc khi tuyển chọn được ba vị trạng nguyên là Nguyễn Thiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Giáp Hải – những người đã có đóng góp trực tiếp cho nhà Mạc trong một thời gian dài. Điều đáng tiếc là, việc Nguyễn Bỉnh Khiêm sau bao năm chờ đợi một minh quân để ra thi thố tài năng, hành đạo giúp nước đã xin vua Mạc Phúc Hải về quê nghỉ, xa lánh chốn quan trường sau gần tám năm tận tụy với nhà Mạc, điều đó nói lên rằng: nhà Mạc từ chỗ được đội ngũ trí thức tin tưởng, cống hiến đã dần đánh mất niềm tin nơi họ.
Không chỉ Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nhiều trí thức sau này trong cuộc đối đầu Nam triều – Bắc triều đã bỏ nhà Mạc về với nhà Lê Trung Hưng như Lê Bá Ly, Nguyễn Quyện, Nguyễn Thiến, Nguyễn Khải Khang, Lê Khắc Thận…. hoặc theo nhà Lê ngay từ đầu dù họ sinh ra và trưởng thành trên vùng cai trị của nhà Mạc như Trạng bùng Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh… hoặc theo Nguyễn như Đào Duy Từ, hầu hết trong số họ đều là những người tài giỏi. Lý do hoài Lê chỉ là một phần, có thể trong bối cảnh đó, nhà Mạc đã bộc lộ những hạn chế khiến tầng lớp trí thức chọn một hướng đi khác chứ không phải phục vụ cho nhà Mạc. Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ đòi nghiêm trị 18 gian thần không được vua Phúc Hải chấp thuận có thể là một trong những dẫn chứng về điều đó. Có thể nói, nhà Mạc đã thành công khi tuyển dụng được đông đảo đội ngũ trí thức. Nhưng sau khi khẳng định được tính chính đáng của dòng họ mình, sau gần hai mươi năm đầu thịnh trị, nhà Mạc cũng bộc lộ những hạn chế và ngày càng suy thoái. Nếu giai đoạn đầu, trí thức theo Mạc thì càng về sau họ đứng trước nhiều ngả đường, tiếp tục chọn lựa hoặc bỏ Mạc theo Lê, hoặc bỏ Mạc và trở thành những trí sĩ. Việc nhà Mạc được Nguyễn Bỉnh Khiêm ra phò giúp thể hiện sự thành công của nhà Mạc trong buổi đầu thành lập nhưng việc Nguyễn Bỉnh Khiêm từ bỏ chốn quan trường về ở ẩn cũng đồng nghĩa với việc nhà Mạc đã mất đi một niềm tin lớn và đó chính là một trong những mầm mống của sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Mạc sau này khi sự tấn công của nhà Lê Trung Hưng ngày càng mạnh mẽ. Sự thất bại của nhà Mạc có thể cắt nghĩa từ nhân tố này, có thể nói tạo được niềm tin là không đơn giản song giữ trọn được niềm tin là còn khó khăn hơn nhiều, trong trường hợp này, nhà Mạc đã không làm được trọn vẹn hai mệnh đề đó.
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khi giai cấp thống trị không tận dụng và khai thác đội ngũ trí thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích giai cấp và dân tộc, đặc biệt, đặt trong bối cảnh khi công cuộc ổn định xã hội của nhà Mạc được đặt song song với sự nghiệp tái lập nhà Lê thì đó là một yếu điểm nguy hại cho nhà Mạc.
– Sự suy yếu, tha hóa của một bộ phận tầng lớp thống trị của nhà Mạc
Sự kiện năm 1542, Tả thị lang bộ Lại Trình Tuyền hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi làm quan cho nhà Mạc tám năm đã dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng thần, không được vua Mạc Phúc Hải chấp thuận không chỉ nói lên việc nhà Mạc đã không đáp ứng được hoàn toàn mơ ước của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn nói lên thực trạng suy yếu trong bộ máy chính quyền nhà Mạc bấy giờ. Với nhãn quan chính trị tinh tường, với trách nhiệm kinh bang tế thế, phò vua giúp nước của một con người có tấm lòng ưu quốc ái dân, đề nghị của ông đòi nghiêm trị 18 kẻ lộng thần chắc hẳn phải có cơ sở. 18 kẻ lộng thần là những ai không được sử sách nhắc đến song chắc hẳn đó là những kẻ trực tiếp hay gián tiếp làm suy yếu bộ máy triều đình hay ít nhất cũng dẫn đến sự phân liệt trong bộ máy triều đình giữa một bên là những người có nhiệt huyết với công cuộc ổn định xã hội của nhà Mạc với một bên là những kẻ chỉ biết lợi dụng sự nghiệp ấy để phục vụ cho lợi ích của mình.
Đến 1592, nhà Mạc chính thức bị Trịnh Tùng đánh bật khỏi kinh đô Thăng Long và chạy lên Cao Bằng, các vị vua Mạc sau đó còn duy trì sự tồn tại hơn tám thập kỷ (1677). Sau những năm đầu thịnh trị, nhà Mạc dần đi vào vết xe đổ của các vua vị vua cuối thời Lê sơ. Tầng lớp thống trị, đặc biệt là người đứng đầu nhà nước và một bộ phận không nhỏ quan lại trong bộ máy triều đình đã nhanh chóng tha hóa và đi vào cuộc sống xa hoa, hưởng thụ, bức tranh xã hội Đại Việt sau những gam màu sáng đã dần bị bôi đen và chuyển sang tối tăm, bế tắc. Chiến tranh loạn lạc đã gây nên tình trạng ruộng hoang hóa, vô chủ, chính sách quân điền của nhà nước không còn phát huy tác dụng, sự phát triển mạnh mẽ của ruộng đất tư hữu (việc chuyển nhượng, mua bán và cúng ruộng chùa ngày càng trở nên phổ biến) đã tấn công vào ruộng công làng xã, các thế lực phong kiến địa phương ra sức tham nhũng ruộng đất, trở thành một vấn nạn, việc nhũng nhiễu nhân dân trở nên ngang nhiên, kỷ cương triều chính bị đảo lộn. Qua lời tâu của bầy tôi Trần Thảo Doanh, Nguyễn Quý Liêm, Hùng Tiếp Doanh, Nguyễn Ngạn Hoàng lên Mạc Phúc Nguyên năm 1553 đã phản ánh thực trạng trên: “Gần đây, gặp lúc quốc gia có biến, tướng ngạo binh kiêu, không tuân hiệu lệnh, triều đình hờ hững chẳng chịu hỏi tra…. các phủ huyện lấy lính, tuy đã chiếu đủ số, mà mỗi khi sai làm việc gì, thì người nọ lừa cho người kia, cố ý lánh việc, tướng quân không cấm nổi, để cho cái tệ quấy nhiễu càng ngày càng nhiều…. Đến như việc ngục tụng,…. đều lập nha môn xử kiện ngay trong nhà… các viên ấy tự tiện nhận đơn, rồi bắt tới tra khảo, hạch sách tiền của, tự ý phân xử, mà các quan hữu ty cũng không can thiệp… những mối tệ như vậy, mà bỏ qua không hỏi tới, thì còn lấy gì để đè nén người quyền quý, bảo vệ kỷ cương của triều đình?” [71, 371 – 372]. Càng về sau, giai cấp thống trị càng trượt dài trên con đường khủng hoảng. Đến đời Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592), vị vua cai trị lâu nhất trong lịch sử triều Mạc, tình hình càng nghiêm trọng hơn. Những lời lẽ ghi trong các bản tấu sớ đã phản ánh thực trạng xã hội đương thời và sự bất lực của nhà nước, sự yếu kém của người đứng đầu quốc gia. Năm 1577, Giáp Trừng dâng sớ viết: “Hiện nay chính sự suy đồi, mà suy đồi không chỉ một vài điểm thôi… ” [71, 404] trong đó, Giáp Hải có nêu sáu điều “đáng sợ” nhằm khuyên vua thay đổi nhằm khắc phục thực trạng chính sự thối nát, tuy vậy, “Mậu Hợp không thể làm theo ý tờ sớ này” [71, 405]. Năm 1581, sáu viên đô cấp sự trung trong sáu khoa dâng tờ tấu tập thể: “Hiện nay… kỷ cương rối loạn, chính sự hững hờ, hình ngục oan uổng, pháp lệnh sai lầm, tướng chưa hòa hợp, binh chưa tề… Khốn nỗi vua tôi trên dưới cứ vui chơi ngạo nghễ, cứ hơn hớn tự cho là thái bình vô sự” [ 71, 407 – 408], thậm chí trong tờ sớ dâng vua năm 1581 Thiêm đô ngự sử Lại Mẫu đã cực lực nói về thời sự tệ hại của nhà Mạc: “Sự thế hiện nay,chính là thời kỳ cực bĩ… việc nước nhân thế mà bề bộn, trăm việc rối ren, lòng dân tan rã… ” [71, 410]. Cũng trong năm này, Thiếu bảo Giáp Trưng cũng dâng sớ, có đoạn: “Hiện nay giặc giã chưa yên, quân dịch nặng nề,… làm cho dân phải khánh kiệt phá sản. Dân tình ngao ngán, không còn muốn sống” [71, 413 – 414]. Ngoài ra còn rất nhiều sớ được các triều thần dâng vua có nội dung tương tự nhưng nhà vua không có biện pháp chỉnh sửa, thậm chí khiến tình hình càng trầm trọng thêm.
Như vậy, nhà Mạc sau một thời gian cai trị bước đầu khởi sắc, từ đời vua Mạc Phúc Nguyên trở về sau đã đi vào suy yếu: chính sự đổ nát, quan tha hóa, không được lòng dân. Trong khi sự tấn công của Lê triều ngày càng mạnh mẽ thì sự thất bại của nhà Mạc là không tránh khỏi.
– Sự rạn nứt và phân liệt sâu sắc trong triều đình nhà Mạc
Năm 1546, Mạc Phúc Hải qua đời, mâu thuẫn nội bộ nhà Mạc bùng nổ từ việc lập ngôi kế vị. Nhà Mạc là triều đại thực hiện chặt chẽ nguyên tắc truyền ngôi theo dòng đích con trưởng nên khi một số cận thần có ý thay đổi, mâu thuẫn nhanh chóng bùng phát thành một cuộc đấu tranh giữa các bên đối lập. Tướng Tử dương hầu Phạm Tử Nghi muốn lập Hoằng Chính Vương – con trai thứ hai của Mạc Đăng Dung, người đã lớn tuổi từng có nhiều công trạng và có uy tín trong ngoài triều. Nhưng tôn vương nhà Mạc và các đại thần lại dựng Phúc Nguyên – con trai trưởng của Phúc Hải còn nhỏ tuổi lên ngôi. Điều này đã khiến Phạm Tử Nghi không hài lòng, bí mật tụ họp các tướng dưới quyền nổi loạn, Phúc Nguyên đang đêm phải bỏ chạy khỏi kinh thành. Tử Nghi nhân cơ hội đó đem Chính Trung (con trai thứ hai của Mạc Đăng Dung) về Hoa Dương (Hưng Nhân, Thái Bình), xưng tôn hiệu, lập triều đình. Phúc Nguyên sai Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính phát binh đánh dẹp nhưng đều thua, Tử Nghi phát hịch tuyên bố đánh thẳng vào kinh đô. Trước tình thế đó, Kính Điển cùng Bá Nghi đem quân tấn công quân Chính Trung ở Ngự Thiên (Thái Bình) buộc Tử Nghi đem Chính Trung rút chạy sau đó cùng gia quyến sang Khâm Châu, sống nhờ trên đất Lưỡng Quảng.
Sau đó không lâu, năm 1551 lại tiếp tục xảy ra vụ Thái tể Lê Bá Ly và con trai là Lê Khắc Thận bị gièm pha mưu phản nghịch, đang đêm nhà Bá Ly ở bị bọn Phạm Quỳnh, Phạm Dao cho người bao vây nhưng Bá Ly đã được ứng cứu. Kinh thành náo loạn, vua Phúc Nguyên dụ Bá Ly bãi binh nhưng Bá Ly không nghe, hai bên đánh nhau, quân Phúc Nguyên thua chạy. Bá Ly đòi giao nộp hai cha con Quỳnh, Dao là những kẻ đã vu cáo gièm pha mình, nhưng Phúc Nguyên không chịu. Bá Ly nổi giận rồi bỏ nhà Mạc, đem 14.000 quân các đạo Tây Nam cùng bộ tướng là Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện và con trai là Khắc Đôn, Khắc Thận về với nhà Lê ở Vạn Lại (Thọ Xuân, Thanh Hóa). Bấy giờ Lê Bá Ly đã là Thái tể, ông vốn là một vị lão tướng trọng thần, chuyên giữ binh quyền, tham dự triều chính, ai cũng tôn phục, việc Lê Bá Ly theo về nhà Lê là một tổn thất lớn cho nhà Mạc, đồng thời tác động không nhỏ đến tâm lý những cận thần trung thành với nhà Mạc, vì thế “Sau khi Bá Ly quy thuận, thì bao nhiêu mưu thần mãnh tướng đều ùa theo, kéo cả vào phương Tây” [71, 362].
Có thể nói, với những mâu thuẫn diễn ra trong nội bộ nhà Mạc đã khiến nhà Mạc suy yếu, sự hiềm khích giữa các thế lực trong triều đình, những cuộc đàn áp các lực lượng chống đối đã làm tổn thất lực lượng của nhà Mạc và gây tâm lý phân tán, chia cắt trong nội bộ nhà Mạc. Với việc nhà Mạc tập trung đối phó với Phạm Tử Nghi và việc Lê Bá Lý đem hơn 1 vạn quân sang quy phục nhà Lê đã khiến quân đội nhà Mạc thêm suy yếu, nhiều tướng tài bỏ nhà Mạc ra đi là một tổn thất và là mối nguy cho nhà Mạc.
Chỉ ra những nguyên nhân thất bại của nhà Mạc nhằm mục đích lý giải cho vấn đế: “tại sao nhà Mạc lại nhanh chóng sụp đổ sau một quá trình ổn định và xây dựng đất nước?”. Trên đây là một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự thất bại của nhà Mạc. Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chủ yếu trình bày những nguyên nhân cơ bản, đặc biệt tìm hiểu những yếu điểm của nhà Mạc bộc lộ trong thời gian đầu cai trị để thấy được ở giai đoạn sau này, những yếu điểm đó trở thành nguyên nhân khiến cho nhà Mạc ngày càng suy yếu và đi đến thất bại. Trên thực tế, trong hai mươi năm đầu và cả giai đoạn sau này, những thành tựu trên hầu khắp các lĩnh vực vốn là thế mạnh của nhà Mạc vẫn được phát huy tuy nhiên, sự ổn định xã hội và sự anh minh của các vị vua Mạc và một bộ phận tôi hiền không còn được duy trì như trước. Những thành tựu trong hai mươi năm đầu cai trị của nhà Mạc là điều cần ghi nhận nhưng những nguyên nhân nêu trên lại chính là nhân tố khiến nhà Mạc không thể trụ vững trước những đợt tấn công của Nam triều.
3.2. NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN
3.2.1. Sự bành trướng của nhà Minh
Sau khi vương triều Mạc được thiết lập, lấy danh nghĩa thiên triều, nhà Minh đã liên tiếp gây sức ép, không công nhận tính chính thống của triều Mạc. Cộng với sự chống phá của các thế lực trong nước, các thế lực chống Mạc liên tiếp cho người sang bẩm báo nhà Minh về việc Mạc Đăng Dung giết vua Lê, cướp ngôi và chặn đường tiến cống của chúng đã tạo điều kiện cho nhà Minh càng có cơ hội thực hiện âm mưu bành trướng của mình. Mặc dù bấy giờ nhà Minh đang gặp rất nhiều khó khăn nhưng nhà Minh vẫn phô trương thanh thế, uy hiếp nhà Mạc liên tục cho đến khi nhà Mạc chấp nhận đầu hàng.
Nhà Minh một lần nữa lại sử dụng chiêu bài “Phù Lê diệt Mạc” giống như các triều đại trước đã từng làm đối với Đại Việt. Mặc dù, trên thực tế, nhà Minh chưa kéo quân sang lãnh thổ Đại Việt nhưng sự đe dọa, hư trương thanh thế, những yêu sách của chúng đối với nhà Mạc đã chi phối không nhỏ đến sự nghiệp của nhà Mạc, đặc biệt trong giai đoạn đầu – giai đoạn nhà Mạc đang cần một nền hòa bình để tiến hành khôi phục, củng cố đất nước sau một thời gian dài khủng hoảng. Trên thực tế, sự bành trướng của nhà Minh chưa tác động trực tiếp lên Đại Việt nhưng lại tác động một cách gián tiếp lên cơ đồ nhà Mạc. Tiềm lực quốc gia suy yếu, công cuộc ổn định xã hội đang bộn bề với hậu quả cuối thời Lê sơ để lại, sự chống phá của các thế lực trong nước đã khiến nhà Mạc chọn giải pháp đầu hàng (năm 1538) và trả lại một số động vốn trước đây thuộc lãnh thổ Trung Hoa (năm 1540), việc làm đó đã khiến nhà Mạc dần mất đi niềm tin trong lòng dân chúng và một bộ phận trí thức vốn ủng hộ nhà Mạc. Vì thế, càng về sau khi nhà Mạc bộc lộ nhiều yếu kém thì đó chính là lý do để nhiều người bỏ Mạc để theo về nhà Lê, đồng thời cũng là yếu điểm mà nhà Lê tuyên truyền, chống đối nhà Mạc để lấy được lòng dân.
Dù nền hòa bình được duy trì, nhà Mạc có điều kiện ổn định và xây dựng đất nước nhưng sự uy hiếp của nhà Minh trong bối cảnh bấy giờ đã quy định thái độ ngoại giao của nhà Mạc, điều này đã làm tổn thương tâm lý nhân dân Đại Việt – đó chính là tác động gián tiếp mà nhà Mạc phải gánh chịu, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của nhà Mạc sau này.
3.2.2. Ngọn cờ “Phù Lê diệt Mạc” của các thế lực ủng hộ nhà Lê
Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, họ Lê là họ hai lần nắm quyền cai trị đất nước. Năm 981, Lê Đại Hành lên ngôi gắn liền với chiến công hiển hách của cuộc kháng chiến chống Tống trên sông Bạch Đằng do Lê Đại Hành chỉ huy, sử gọi là nhà Tiền Lê. Năm thế kỷ sau đó, năm 1417, Lê Lợi – người anh hùng của đất Lam Sơn, Thanh Hóa đã giải phóng đất nước và dân tộc khỏi ách đô hộ của nhà Minh, sử sách gọi là Hậu Lê. Nhà Lê bao gồm hai giai đoạn: Lê sơ (1427 – 1527) và Lê Trung Hưng (1546 – 1786), từ đó sử gọi là nhà Lê sơ và nhà Lê Trung Hưng. Trong đó, nhà Lê Sơ sau cuộc kháng chiến chống Minh đã đưa chế độ phong kiến Việt Nam phát triển đến đỉnh cao, còn nhà Lê Trung Hưng (hay còn gọi là Lê Mạt) là triều đại được thành lập sau một quá trình chống Mạc gian khó cũng đạt nhiều thành tựu to lớn trong hơn hai trăm năm tồn tại. Sở dĩ gọi là Lê Trung Hưng vì đây là triều đại do con cháu nhà Lê cùng với các lực lượng Trịnh, Nguyễn tìm cách phục hồi lại sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung lật đổ. Điều đáng bàn là khi nhà Mạc bắt đầu gây dựng cơ đồ thì cũng là lúc nhà Lê Trung Hưng khởi nghiệp, vậy nên ngay từ những năm đầu nhà Mạc thành lập, cục diện phân tranh đã hình thành, những mâu thuẫn không thể giải quyết bằng cách nào khác ngoài việc đứng ở hai trận tuyến đối lập cho đến khi một trong hai thất bại, gục ngã.
Sau một trăm năm tồn tại với những thành tựu rực rỡ song cũng không ít những biến động trước khi sụp đổ, nhà Lê không còn khả năng đảm nhiệm trọng trách điều hành và quản lý đất nước và nhân dân Đại Việt như trước. “Nhà Mạc và thời đại nhà Mạc được đánh dấu như một sự chuyển tiếp quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước ta ở thế kỷ XVI” [65, 8], tuy nhiên, nhà Mạc chỉ tồn tại trong vòng 65 năm (1527 – 1592) rồi sau đó thất bại trước nhà Lê Trung Hưng. Có nhiều giả thiết đặt ra lý giải thất bại của nhà Mạc:
1. PGS.TS. Nguyễn Minh Tường: “… Điều đó cho thấy tư tưởng chính thống đã có ảnh hưởng rất sâu trong nhân dân, nhất là tầng lớp trí thức phong kiến đương thời. Họ Trịnh đã chiến thắng họ Mạc là do biết lợi dụng chiêu bài “phù Lê diệt Mạc”. Và chính các chúa Trịnh có thể duy trì được thực quyền bên cạnh ông vua Lê bù nhìn, suốt cả thời kỳ Lê Trung Hưng ngót ba thế kỷ là do họ đã rút kinh nghiệm bài học nhà Mạc: không bao giờ trèo lên ngai vàng của nhà Lê” [65, 305].
PGS.TS Đỗ Văn Ninh: “150 năm tồn tại, vương triều Mạc đã phải long đong chống đỡ với những lực lượng chống đối mình tới quá nửa thời gian. Danh nghĩa không chính, nhà Mạc ít được dân ủng hộ, chỗ dựa duy nhất của nhà Mạc, quân Mạc đông nhưng không tinh” [65, 101]
3. PGS. Mạc Đường: “Phải chăng nhà Mạc đã xem nhẹ tâm lý phò Lê vẫn còn tiềm ẩn trong trái tim của các tầng lớp nông dân trong xã hội mặc đó là các vua Quỷ, vua Lợn? đó là những nguyên nhân về tâm lý xã hội dẫn vương triều Mạc vào con đường diệt vong bởi sự tiến công của quân đội Lê Trịnh” [17, 25].
4. PGS.TS. Nguyễn Danh Phiệt: “Nội chiến kéo dài là một trở ngại lớn, khách quan, khiến cho vương triều Mạc không tập trung sức lực để xây dựng đất nước. Đó là thực tế lịch sử” [51, 7].
Còn nhiều nguyên nhân được nêu ra cắt nghĩa sự thất bại của nhà Mạc sau 65 năm trị vì, trong đó một trong những nguyên nhân không thể bỏ qua đó là sự nghiệp trung hưng của nhà Lê. Đối với giai đoạn chúng tôi nghiên cứu từ 1527 đến 1546 là thời kỳ ổn định của xã hội và thịnh trị của vương triều Mạc thì sự nghiệp nhà Lê mới chỉ bắt đầu nhưng đã tác động không nhỏ đến công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc.
Ông Phạm Xuân Huyên khi nghiên cứu về sự nghiệp của các chúa Trịnh sau khi thống kê các triều đại với số năm thống trị trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam đã khẳng định: “Một triều đại phong kiến tồn tại lâu dài hoặc nhanh chóng sụp đổ, lệ thuộc vào nhiều yếu tố và nguyên nhân xã hội: lòng dân, các chế độ, chính sách của vương triều, vai trò của vua chúa, triều đình và quan lại” [26, 78], điều đó đúng nhưng thiết nghĩ chưa đủ đối với các triều đại như triều Đinh, triều Mạc và triều Tây Sơn. Bởi trong lịch sử, bên cạnh những quy luật còn có những chuyện ngẫu nhiên, chính điều ngẫu nhiên ấy dẫn đến những bước ngoặt trong lịch sử buộc chúng ta xem xét thực chất vấn đề. “Cho đến thế kỷ XV trong lịch sử chưa có tiền lệ về một cuộc nội chiến xảy ra mỗi khi có sự thay đổi vương triều” [51, 12], chỉ đến thế kỷ XVI, khi nhà Mạc thay thế nhà Lê, điều này mới diễn ra và tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội Đại Việt và vương triều mới. Trong những thế kỷ trước, khi mà chế độ phong kiến đang trên đà hình thành và xác lập, những nguyên tắc Nho giáo và những thế lực hùng mạnh tồn tại bên cạnh nhà vua chưa thực sự chi phối xã hội thì bước sang thế kỷ XV, khi Nho giáo trở thành quốc giáo, với chế độ quân điền của nhà Lê đã hình thành một bộ phận thế lực địa chủ có sức mạnh về kinh tế và chính trị. Vì thế, việc làm của Mạc Đăng Dung và sự thiết lập một triều đại mới đã dẫn đến hệ quả như chúng ta đã thấy: nội chiến bùng nổ và kéo dài.
Trong trường hợp này, nếu không phải là Mạc Đăng Dung mà là bất kỳ một dòng họ nào khác lên thay thế hoặc tiến hành công cuộc ổn định xã hội Đại Việt (trừ nhà Lê), có lẽ cuộc chiến ấy vẫn xảy ra. Có thể lý giải vấn đề này như sau: xã hội Đại Việt là một xã hội theo học thuyết Khổng Tử nên nghĩa tôn quân được tất cả các tầng lớp trong xã hội tôn trọng. Đó là một yếu tố tinh thần nhưng nó lại ảnh hưởng tới điều kiện vật chất của xã hội và ta thấy: Các dòng họ khác (Nguyễn, Trịnh) đã khôn khéo sử dụng nghĩa tôn quân đó để chống lại nhà Mạc và công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc. Bởi vậy, dẫu nhà Mạc có nỗ lực trong suốt thời gian dài để ổn định xã hội sau thời gian khủng hoảng thì cũng không đối phó nổi với các thế lực Trịnh, Nguyễn vì họ nắm trong tay thứ vũ khí tinh thần mà cả dân tộc coi trọng. Chính cái nghĩa tôn quân ấy đã dẫn tới sự xuất hiện của Trịnh Kiểm và công cuộc phò giúp vua Lê mà ông đeo đuổi và khiến vị chúa Trịnh đầu tiên trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam thành công.
Điểm lại những việc làm của các cựu thần nhà Lê từ khi nhà Mạc lên ngôi (1527) đến khi nhà Lê Trung Hưng được thành lập (1533) và dưới thời ba vị vua đầu nhà Mạc (1527 – 1546), có thể thấy ảnh hưởng của ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” đối với sự nghiệp của nhà Mạc như sau: Gần như liên tục trong hai mươi năm đầu trị vì, nhà Mạc đã gặp phải sự phản kháng, chống đối của các cựu thần nhà Lê. Trong suốt nửa thập kỷ sau đó (1546 – 1592) đã diễn ra gần 40 trận đánh quyết liệt giữa Nam triều và Bắc triều, nhà Mạc phải đối phó với thù trong giặc ngoài, công cuộc khôi phục lại đất nước bị gián đoạn. Tuy vậy nhà Mạc vẫn giữ cho xã hội Đại Việt trong 20 năm đầu không bị chao đảo mà vẫn đạt nhiều thành tựu trên khắp các lĩnh vực.
Trước tiên, chúng tôi xin bàn về sự nghiệp của hai vương triều: Mạc và Lê – Trịnh trong bối cảnh xã hội Đại Việt đầu thế kỷ XVI để lý giải nguyên nhân thành công của triều Lê Trung Hưng và thất bại của triều Mạc.
Thứ nhất: về mục đích của từng triều đại: trong xã hội phong kiến, mưu đồ bá vương là điều thường thấy, khi âm thầm lặng lẽ nhưng có lúc dữ dội, cả ba thế lực là Mạc (Mạc Đăng Dung), Nguyễn (Nguyễn Kim), Trịnh (Trịnh Kiểm) đều không nằm ngoài mưu đồ ấy. Tuy nhiên, cách thức đạt được là không giống nhau, tất nhiên, để có được quyền lực về tay mình triều đại ấy phải có một thực lực nhất định và đảm bảo được lợi ích cho nhân dân và dân tộc. Vậy nên, sau khi lên nắm quyền, triều đại nào cũng có những chính sách ổn định và phát triển kinh tế xã hội để giữ vững ngai vàng của mình. Về việc này, nhà Mạc và nhà Lê – Trịnh đều thành công trong quá trình thu phục niềm tin và lòng người.
Đúng như nhận xét của tác giả Nguyễn Danh Phiệt: “Tập đoàn Lê tuy đã bị loại khỏi chính trường nhưng với cơ sở xã hội và dư uy của một thời hoàng kim trong giữ nước và dựng nước hồi thế kỷ XV đã hồi phục và tập hợp được lực lượng. Vẫn là vấn đề quyền lực. Đằng sau quyền lực là “có cả thiên hạ” với đế vị chí tôn và của cải lợi lộc vô hạn.” [51, 12]. Quyền lực và lợi ích của ngôi vị đế vương chính là mục đích hướng tới của các thế lực trên nên đã khiến họ bằng cách này hay cách khác để đạt được mục đích của mình.
Thứ hai: về cách thức đạt được mục đích: Sau những nỗ lực cùng vua Lê dẹp các cuộc nổi loạn của nông dân và khống chế các thế lực trong triều chính, Mạc Đăng Dung xứng đáng trở thành người kế vị nhà Lê đã lụi bại. Ông và các vị vua đầu triều đã bắt tay vào công cuộc ổn định xã hội, mang lại diện mạo mới cho xã hội Đại Việt trong những năm đầu thành lập. Về phía nhà Lê – Trịnh, trong cùng khoảng thời gian ấy, các cựu thần nhà Lê đã làm ba việc: một là lập vua Lê (Nguyễn Kim “sai người về trong nước tìm khắp con cháu nhà Lê, tìm được con của Chiêu tôn là Ninh, lập lên làm vua” [12, 127), hai là: tập hợp lực lượng để phục lại nhà Lê và chống Mạc (dựa vào sự giúp đỡ của vua Ai Lao và nhân dân vùng Thanh – Nghệ), ba là nhà Lê – Trịnh đã cho người sang tố cáo nhà Mạc và cầu cứu nhà Minh.
Hai con đường để đạt được mục đích của hai thế lực cần được đánh giá như thế nào? Vấn đề là ở chỗ: khi nhà Mạc đã xứng đáng xác lập địa vị thống trị của mình,“lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón y vào kinh đô” [71, 326] và nỗ lực đưa xã hội Đại Việt vào sự ổn định thì nhà Lê mà đằng sau là hai thế lực Nguyễn, Trịnh vẫn tiến hành củng cố, khôi phục lực lượng để tấn công lật đổ nhà Mạc bất chấp thủ đoạn. Việc nhà Lê – Trịnh cầu cứu nhà Minh hãy để hậu thế phán xét nhưng đó là điều vô cùng nguy hại đối với hòa bình của dân tộc và sự an nguy của nhân dân, đặt Đại Việt trước thảm họa mất nước.
Thứ ba: kết cục của mỗi cách thức: nhà Mạc tiến hành một cuộc đảo chính khá hòa bình để lên thay nhà Lê và nỗ lực xây dựng đất nước trong khi đó, hai thế lực Trịnh, Nguyễn đã mượn danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”, cầu cứu nhà Minh, chiêu tập đông đảo nhân dân để chống lại nhà Mạc. Sự khác biệt giữa một bên công khai lật đổ triều đại đã mục nát với một bên mượn ánh hào quang của triều đại Lê Sơ vẻ vang để thu phục nhân tâm để xác lập quyền lực cho dòng họ mình đã dẫn đến kết cục: cuộc đối đầu và chiến đấu ác liệt giữa hai triều đại kéo dài hàng thập kỷ. Thất bại thuộc về ngụy Mạc, thắng lợi thuộc về những ai biết “thờ phật ăn oản” và “biết tìm thóc giống mà gieo”.
Điều đó nói lên một sự thực là: hoàng quyền của nhà Lê Sơ như một ánh hào quang tỏa sáng và in đậm trong tâm trí nhân dân Đại Việt bởi chiến công hiển hách của công cuộc giải phóng dân tộc và những thành tựu huy hoàng đạt được dưới các đời vua như Lê Thái Tổ (1428 – 1433), Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Người dân Đại Việt đã không quên ơn huệ của nhà Lê Sơ khi họ được sống trong cảnh yên bình, họ và con cháu họ được hưởng những quyền lợi cả về kinh tế và chính trị. Điều này không có nghĩa là nhà Mạc có tội với lịch sử khi lật đổ nhà Lê Sơ và lên ngôi mà nó nói lên rằng: “hoàng đế có thể đổi thay từ người này sang người khác nhưng hoàng quyền là vĩnh hằng và bất khả xâm phạm” (PGS. Hoàng Văn Lân) đồng thời cho thấy xu hướng phong kiến với nền kinh tế tiểu nông đang ngự trị nặng nề trong lòng xã hội khiến cho xu thế kinh tế tư bản với mầm mống nền kinh tế hàng hóa phải bất lực, chìm lắng xuống.
Trở lại với vấn đề hoàng quyền nhà Lê Sơ – nhân tố chi phối mạnh mẽ lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XV đến khi chế độ phong kiến sụp đổ, chúng ta thấy: Lê Lợi sau những chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi đã trở thành Hoàng đế của đất nước Đại Việt, đã tổ chức nhà nước theo mô hình quân chủ của học thuyết Khổng Tử. Theo đó, vua là người đứng đầu, hay còn gọi là Thiên tử – “thể hiện một hoàng quyền tuyệt đối thuộc về Lê Lợi và tuyệt đối vĩnh hằng”. Nghĩa là, Hoàng quyền ấy là tối cao, dứt khoát không có một ngoại lệ nào, nếu dùng chữ K’mark gọi: Lệ ngoại quyền. (PGS. Hoàng Văn Lân).Quan hệ Hoàng đế – thần dân được xác lập trên cơ sở kinh tế là phép quân điền. Cái hơn hẳn của triều Lê Sơ so với các triều đại khác đó là: dân chúng Đại Việt, từ quan nhất phẩm triều đình cho đến những người nghèo khổ nhất sống nơi thôn cùng xóm vắng đều được chia ruộng, đó chính là ơn vua lộc nước. Như thế, với ơn vua lộc nước thì họ phải có nghĩa vụ đối với Hoàng đế và chấp nhận vị trí thần dân của Hoàng đế. Những thần dân nhận ruộng của vua, con cháu họ sinh ra tiếp tục được sử dụng số ruộng đó đã mang trong mình trọng trách đối với Hoàng đế – người đứng đầu nhà nước. Trong khi đó, nhà Mạc được thiết lập khi chính sách Quân điền của nhà Lê đang từng bước phá sản, xu thế phát triển ruộng tư hữu mạnh mẽ, nhà Mạc đã không đủ khả năng can thiệp vào số ruộng tư hữu đang ngày càng lấn át ruộng công và buộc dùng số ruộng công còn lại để thi hành chính sách Binh điền, số ít còn lại để thi hành chính sách Quân điền cho cư dân làng xã. Vậy nên, có thể nói: nhà Mạc chưa có một cơ sở kinh tế vững vàng cho việc xác lập địa vị thống trị của mình.
Như vậy, ánh hào quang nhà Lê ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử nước ta trong thế kỷ XVI, XVII, XVIII, dù bất lực, chỉ là bù nhìn nhưng không thể bãi bỏ danh hiệu Hoàng đế của nhà Lê được. Đến khi Quang Trung ra Bắc Hà năm 1786 mới tính chuyện thay đổi họ Lê, nhưng cũng phải sau khi chiến thắng Tôn Sĩ Nghị (quân Thanh) thì nhà Tây Sơn mới dám nghĩa chính đáng thay nhà Lê. Ngay cả năm 1802, dù đã chiến thắng Tây Sơn, Gia Long lên ngôi và lấy danh nghĩa kế thừa các triều đại trước từ thời Hùng Vương trở đi, nhưng Gia Long vẫn phải giữ một người con cháu của dòng họ Lê để ban ruộng đất, chức tước và thờ phụng họ Lê – Thiên tử 400 năm về trước.
Soi xét điều này với hành động của Mạc Đăng Dung vào thời điểm cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, việc lật đổ ngai vàng nhà Lê và vị trí Hoàng đế nhà Lê là một việc làm chính nghĩa nhưng mạo hiểm. Trước tiên, dư âm huy hoàng của cuộc kháng chiến vẫn còn đọng lại trong lòng nhân dân Đại Việt; thứ hai: lòng người dù đã hướng về nhà Mạc nhưng không có nghĩa đó là đại bộ phận nhân dân Đại Việt, đâu đó, đặc biệt là những vùng đất phát tích của nhà Lê, vẫn trung thành và tận tụy với nhà Lê; thứ ba: rõ ràng ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo đã thấm đẫm xã hội từ giai cấp thống trị cho đến bị trị, đặc biệt trong nhận thức của trí thức đương thời nên thái độ ủng hộ nhà Mạc hoàn toàn là điều không thể có. Cuối cùng, điều quan trọng hơn là: trong xã hội Đại Việt thế kỷ XV đã hình thành các thế lực địa chủ, nắm trong tay tư liệu sản xuất và có tiềm lực về quân sự, nhất là đối với một số dòng họ có vai vế trong triều đình và ngoài xã hội (họ Nguyễn, họ Trịnh ở Thanh Hóa, họ Trần ở Thủy Nguyên, Hải Phòng, họ Vũ ở Tuyên Quang… ) nên việc một thế lực nổi lên lật đổ ngai vàng sẽ không tránh khỏi gặp phải sự chống đối từ các thế lực khác. Nói Mạc Đăng Dung mạo hiểm là vì những lẽ đó, điều này đồng nghĩa với những khó khăn và thách thức mà vương triều Mạc phải đối mặt sau khi thành lập.
Nhìn vào những thành tựu nhà Mạc đạt được trong hai mươi năm đầu cầm quyền, nếu so sánh với thời thịnh trị của nhà Lê Sơ có thể khách quan mà nói, “vương triều Mạc không làm được gì mới, hầu như chỉ khôi phục lại những việc đã làm từ thời Lê Sơ” [51, 7] nhưng nếu so sánh với thời gian cuối của nhà Lê Sơ, khi xã hội rơi vào khủng hoảng trầm trọng thì quãng thời gian ¼ thế kỷ ấy lại trở nên ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc.
Tóm lại, nhà Mạc đã hơn hẳn các thế lực khác ở chỗ: họ dám đứng lên tiến hành lật đổ một vương triều đang mục ruỗng và bắt tay vào công cuộc ổn định xã hội, mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân, song bi kịch của dòng họ này là ở chỗ: thắng lợi không đến với họ sau bao nỗ lực khôi phục dân tộc mà thắng lợi ấy đến với những người biết tận dụng cho mình danh nghĩa phù Lê.
Nhà Lê Trung Hưng được thiết lập, không thể bỏ qua vai trò lớn lao của cựu thần nhà Lê là An Thanh Hầu Nguyễn Kim và Dực quận công Trịnh Kiểm. Có thể nói trong sự nghiệp của nhà Lê hai nhân vật trên có một vai trò rất quan trọng.
3.2.2.1. Nguyễn Kim (?-1545)
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Nguyễn Kim thuộc dòng họ Nguyễn ở Tống Sơn, Thanh Hoa (nay là huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Nguyễn Kim là con của An hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ làm quan dưới triều Lê Chiêu Tông, cháu Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang (làm quan dưới triều Hồng Đức), cả ba thế hệ đều làm quan nhà Lê Sơ. Ông từng giữ chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, tước An Thanh hầu. Theo Nguyễn Danh Phiệt “Họ Nguyễn đến Nguyễn Kim là đời thứ năm nối nhau làm quan võ cao cấp thời Lê Sơ: Nguyễn Công Duẫn, Phụng thần vệ tướng quân, Thái bảo Hoành Quốc công; Nguyễn Đức Trung, Đô đốc Trinh Quốc công; Nguyễn Văn Lang, Thủy quân vệ chỉ huy sứ, Thái úy Vệ Quốc công, Nguyễn Hoằng Dụ, Đô đốc An Hòa hầu, Nguyễn Kim, Hữu vệ tướng quân, An thành hầu” [51, 12-13].
Là con cháu trong một dòng họ đã có nhiều đóng góp cống hiến cho nhà Lê, từ buổi khai quốc cho đến khi suy tàn, Nguyễn Kim tỏ ra là người kế thừa xứng đáng truyền thống gia đình và không đi trái đạo trung quân với triều đình nhà Lê. Sự nghiệp của Nguyễn Kim chỉ được sử sách nhắc đến từ khi Mạc Đăng Dung đã thay thế nhà Lê và xác lập địa vị thống trị của vương triều Mạc. Năm 1529, sau khi nhà Mạc đã thành lập được hai năm, trên đất Ai Lao, Nguyễn Kim đã nương náu và nhận sự giúp đỡ khá thiện tình của vua Sạ Đẩu (Ai Lao). Được cấp đất và dân ở vùng Sầm Châu để ở, Nguyễn Kim có điều kiện củng cố lực lượng, “chiêu tập những kẻ làm phản, ngầm tìm con cháu họ Lê lên để mưu khôi phục” [12, 123].
Sự kiện này được coi là mốc mở đầu cho công cuộc trung hưng của nhà Lê, qua đó ta thấy vai trò của Nguyễn Kim là rất lớn. Việc làm của Nguyễn Kim có thể xuất phát từ tinh thần trung quân của một bầy tôi trung thành, muốn giúp vua Lê gây dựng lại cơ đồ, hay vì do ông được sinh thành trên đất phát tích của nhà Lê nên không chịu khuất phục, tinh thần chống ngụy Mạc mạnh mẽ. Cũng có thể, trong buổi loạn lạc, vua đã bị phế truất, họ Nguyễn ở Tống Sơn với tham vọng của mình không dễ dàng chấp nhận việc đã rồi ấy.
Quyết tâm của Nguyễn Kim thể hiện ở việc ông quyết tìm một nhân vật họ Lê thay thế, dẫu điều đó là hết sức khó khăn. Khó khăn là vì: bấy giờ nhà Mạc đã được thành lập thay thế nhà Lê, chính quyền chính thức nằm trong tay nhà Mạc nên nhà Mạc toàn quyền cai quản toàn bộ lãnh thổ cũng như thần dân Đại Việt. Với tư cách là người đứng đầu nhà nước, nhà Mạc có một bộ máy nhà nước, một hệ thống pháp luật được thừa hưởng từ nhà Lê, có hệ thống quân đội khá hùng hậu để đàn áp những phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình. Vì thế, đương nhiên nhà Mạc có quyền trừng trị những lực lượng đối lập và có mưu làm phản. Căn cứ vào những việc làm của Mạc Đăng Dung trước khi lên làm vua, ta thấy thái độ của ông khá rõ ràng, dứt khoát trước những biểu hiện chống đối từ các lực lượng Lê cựu. Trong trường hợp đó, vốn là người đang làm việc cho bộ máy chính quyền nhà Lê, chắc hẳn Nguyễn Kim vẫn nắm chắc được tình hình và thấy rõ những bài học về việc theo hay không theo Mạc Đăng Dung vào những năm cuối cùng của triều đình nhà Lê.
Đúng là, để chuẩn bị cho việc lật đổ vua Lê một cách êm thấm, Mạc Đăng Dung đã có một quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, tất nhiên dựa trên cơ sở có sự ủng hộ của quần thần và một bộ phận nhân dân và trí thức. Sự chuẩn bị ấy ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt, thể hiện tham vọng một cách rõ rệt nhất qua một loạt những việc làm của Mạc Đăng Dung từ những năm 1525 đến khi nhà Mạc được thành lập. Mạc Đăng Dung khi đã toàn quyền nắm lực lượng quân đội và khống chế được vua Lê, đã ngầm vạch rõ hai con đường cho quan lại dưới triều Lê bấy giờ; một là ủng hộ Mạc Đăng Dung thì sẽ được trọng dụng, hai là nếu theo nhà Lê và chống lại ông thì sẽ không tránh khỏi bị trừng phạt. Việc làm của ông đã nói lên điều đó. Năm Ất Dậu (1525), “Mạc Đăng Dung giết bọn Phúc lương hầu Hà Phi Chuẩn. Bấy giờ bọn Phi Chuẩn nghe tin Mạc Đăng Dung đã bức hiếp Quang Thiệu đế, bèn giải tán trốn về Bắc, bị người cùng bọn là Tử Nhạc bá bắt giải về kinh sư, thắt cổ giết chết. Phi Chuẩn đã chết, Nghiêm Bá Ký và Nguyễn Xí đi trốn….Đàm Thận Huy… cũng đi trốn rồi chết…Nguyễn Hữu Nghiêm trốn lên huyện Tam Nông sau bị đóng cũi đưa về kinh sư, dùng xe xé xác ra đem đi rêu rao và giết cả con. Dương Khải sau cũng bị đóng cũi đưa về kinh sư…” [12, 115]. Tiếp đó, năm Bính Tuất (1526), Mạc Đăng Dung giết Tiến quận công Nguyễn Lĩnh với lý do “Huệ (em gái Mạc Đăng Dung) bèn tố cáo là Lĩnh viết thư lập bè đảng, nên bị giết” [12, 116]. Thậm chí có trường hợp của thị thư Nguyễn Thuyên, lấy con gái của Lĩnh, sau khi Nguyễn Lĩnh bị giết, Thuyên cũng bỏ vợ. Điều đó cho thấy, Mạc Đăng Dung sẽ trừng phạt tất cả những ai có liên quan đến việc làm phản, Nguyễn Kim chắc hẳn thấy rõ điều đó. Đối với những người theo và ủng hộ Mạc Đăng Dung, ông vẫn trọng dụng họ. Tiêu biểu như những người được Mạc Đăng Dung phong cho tước bậc sau khi lên ngôi (56 người), họ hầu hết là quan lại và những người được đào tạo, làm việc dưới thời Lê Sơ.
Như vậy, trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Kim đã chọn cho mình một con đường gian khó, đầy thách thức. Tháng 12 năm 1532 Nguyễn Kim tìm được Lê Duy Ninh (tên gọi khác là Huyến, tên tục là Chúa Chổm), là con của Lê Chiêu Tông, chắt của Lê Thánh Tông, mẹ là Phạm Thị, húy là Ngọc Quỳnh, người sách Cao Trĩ (nay là huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa) và lập lên làm vua. Đổi niên hiệu là Nguyên Hòa (tức Trang Tôn), chính thức thành vua cai trị đất nước, tuy nhiên, trên thực tế, vị vua đầu triều Lê Trung Hưng vẫn đóng trên đất Ai Lao, chờ dịp về nước, ban đầu cũng chỉ làm chủ được một phần đất Thanh Hoa mà thôi.
Mùa xuân năm Quý Tị (1533), vua lên ngôi ở Ai Lao, đặt niên hiệu Nguyên Hòa, ở ngôi trong 16 năm. Sau khi lên ngôi, vua Lê tiến hành một số công việc như sau: tôn đại tướng quân Nguyễn Kim làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công trưởng nội ngoại sự, lấy hoạn quan là Đinh Công làm thiếu úy Hưng quốc công, ngoài ra người nào cũng được phong thưởng để cùng lòng giúp đỡ. Chức tước mà Nguyễn Kim đảm nhiệm cho thấy vai trò to lớn của ông trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ngoài ra, khi chưa có cơ sở trong nước, vua đã kết giao với vua Sạ Đẩu nước Ai Lao để nhờ quân lương và mưu việc lớn, lấy lại nước, điều đó cho thấy trong thời gian đầu, sự giúp đỡ của Ai Lao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phục hồi lại nhà Lê.
Với vai trò của mình, Nguyễn Kim đã sát cánh cùng vua Lê trong buổi đầu thành lập, đồng thời để lật đổ nhà Mạc, Nguyễn Kim đã tổ chức những đợt tiến công nhằm mở rộng khu vực chiếm đóng và làm suy yếu nhà Mạc. Năm Canh Tý 1540, Nguyễn Kim đốc quân đánh Nghệ An, “nhiều hào kiệt theo về, thanh thế của quân lừng lẫy, đến đâu là xa gần hàng phục” [12, 132]. Sử liệu không ghi số quân nhà Lê buổi đầu là bao nhiêu, nhưng những gì họ đạt được trong buổi đầu cho thấy tài năng chỉ huy của Nguyễn Kim. Nghệ An – Thanh Hóa từng là kho người, kho của trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nhà Lê Sơ, thêm một lần nữa trở thành vùng đệm, nơi căn cứ để nhà Lê Trung Hưng tấn công nhà Mạc. Tiếp đó, năm Nhâm dần (1542), vua tin tưởng sai Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim thống đốc tướng sĩ các dinh đi trước, tiến đánh các xứ Thanh Hoa, Nghệ An. Kết quả “các tướng cũ và hào kiệt hai xứ ấy phần nhiều theo về, quân thanh càng mạnh” [12, 133]. Trong đó, năm 1543, Dương Chấp Nhất – một tướng nhà Mạc tước hầu ra hàng nhà Lê ở thành Tây Đô,cùng lúc đó, Nguyễn Kim được vua gọi, trở về từ Ai Lao, tiếp tục được vua gia thăng làm Thái tể. Cùng năm đó, ông được sai làm Đô tướng Tiết chế tướng sĩ các dinh, chia đường đều tiến, dẹp yên dân miền Tây Nam. Với tài năng của mình,những cuộc tiến công do Nguyễn Kim chỉ huy giành những thắng lợi liên tiếp.
Sự nghiệp của ông khi đang trên đà thắng nhà Mạc liên tiếp đành bỏ dở, ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (1545) ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc. Cái chết đột ngột của ông là một tổn thất đối với nhà Lê trong buổi đầu trung hưng. Ông là người có công đầu trong việc kiến tạo vương triều Lê Trung Hưng trong hoàn cảnh khó khăn nhất, đảm nhiệm cả công việc triều đình cũng như việc đối phó với nhà Mạc ở phía Bắc. Từ những việc làm của ông trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy, có thể khẳng định ông là một vị tướng tài, bản lĩnh. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ năm 1531 đã diễn ra những trận giao chiến của nhà Mạc với lực lượng phù Lê, trong khoảng thời gian trên, nhà Lê đều giành thắng lợi, thậm chí nhiều trận còn tiêu diệt được một bộ phận lớn quân tướng nhà Mạc (1531, 1539, 1543, 1545). Có thể việc ghi chép trên mang tính chủ quan của sử thần nhà Lê, nhưng trên thực tế, việc nhà Lê ngày càng chiếm ưu thế ở khu vực Thanh Nghệ cũng góp phần nói lên điều đó, đây cũng chính là nơi nhà Lê Trung Hưng đóng đô và làm căn cứ trong thời gian đối phó và chiến đấu với nhà Mạc.
Để bù đắp xứng đáng với công lao của ông, sau khi ông mất nhà vua đã xuống chiếu tặng ông làm Chiêu huân tĩnh công, thụy là Trung Hiến. Việc tang được tiến hành chu đáo tại quê nhà, đồng thời phong cho con trưởng là Nguyễn Uông làm Lãng quận công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hạ khê hầu sau đó cử đi đánh giặc. Ca ngợi công lao của Nguyễn Kim, sử sách có viết “May nhờ có tướng huân của triều Lê giữ trọn tiết lớn, cùng lòng sửa sang, hợp bàn giúp đỡ, để vượt khỏi gian nan, đó là ý trời định đợi đến ngày vua tôi ngày nay, gắng chí mưu toan, khôi phục ngôi cũ, cho nên dựng lại được nghiệp trung hưng, thống nhất bờ cõi, đổi mới xã tắc, giết bọn gian hùng tàn ngược, đẩy mặt trời, mặt trăng lại giữa trời, để được nhất thống” và có những câu thơ ngợi ca: “Đất cũ ngôi xưa đã phục hồi. Lam Sơn lại rạng vẻ lâu đài. Vua tôi hợp đức thêm hay nữa. Chính trị mừng xem khắp mọi nơi” [12, 128].
Nguyễn Kim là người có công lớn đối với nhà Lê Trung Hưng, cái chết của ông không chỉ gây tổn thất cho nhà Lê mà còn mở ra một bước ngoặt trong sự nghiệp các vua Lê. Trịnh Kiểm – con rể Nguyễn Kim nổi lên kế tục và trở thành một phần không thể thiếu đối với nhà Lê trong sự nghiệp chống lại nhà Mạc và gây dựng cơ đồ cho nhà Lê cũng như dòng họ mình.
3.2.2.2. Trịnh Kiểm (1503-1570)
Trịnh Kiểm sinh ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi (1503 – niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 đời vua Lê Hiến Tông) [26, 21]. Ông có tên húy là Phiến sau gọi là Kiểm. Tổ tiên của Trịnh Kiểm quê ở làng Xáo Sơn (còn gọi là Sóc Sơn,) huyện Vĩnh Ninh trấn Thanh Hoa (nay là huyện Vĩnh Lộc). Cao tổ của ông là Trịnh Kỷ, tằng tổ của ông là Trịnh Liễu, sau dời đến làng Biện Thượng (nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng), tính tình nhân hậu, lấy vợ họ Hoàng ở Biện Thượng. Trịnh Lan sinh ra Trịnh Lâu cũng chăm chỉ làm việc, lấy vợ người họ Hoàng, xã Vệ Quốc, Hổ thôn, huyện Yên Định sinh ra Trịnh Kiểm.
Truyền thuyết và những sách vở đương thời viết về ông – vị chúa đầu tiên của nhà Trịnh có nhiều điều hư cấu, tuy nhiên dựa vào nguồn tư liệu chính thống, điểm lại các mốc lịch sử, có thể hình dung sự nghiệp của vị chúa Trịnh đầu tiên cũng như đóng góp của ông đối với sự nghiệp nhà Lê như sau:
Ngay cả cuốn “Đại Việt Lê triều đế vương trung hưng công nghiệp thực lục”- là bộ sử hoàn toàn đứng trên lập trường của nhà chúa để ghi chép và lý giải lịch sử cũng không ngại nêu xuất thân nghèo hèn của Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm xuất thân từ thành phần nông dân nghèo khó, khốn cùng. Tuy Tằng tổ Trịnh Liễu có được học hành, nhưng đến đời ông thì không. Ông mồ côi cha từ sớm nên ở với mẹ, tuổi trẻ phải làm lụng vất vả, thường đi chăn trâu nên hay tổ chức đánh trận giả, thường bắt trộm gà để khao quân. Năm mười sáu tuổi (1518), vì tội trộm trâu nên phải phiêu dạt đến làng khác, đến những năm ngoài 20 tuổi (1527 – 1529), trở về huyện coi ngựa cho tướng nhà Mạc – Ninh Bang hầu [45, 667]. Năm ông 30 tuổi, được tin Thái tể Hưng quốc công Nguyễn Kim dựng cờ phù Lê diệt Mạc ở miền rừng núi phía Tây xứ Thanh, tiếp tục trộm ngựa, đi tìm và theo Nguyễn Kim.
“Thấy ông có sức mạnh hơn người, lại giỏi việc dạy luyện ngựa, Nguyễn Kim tin dùng giao ông chức Tri mã cơ lo việc luyện tập đội kỵ binh… Ông có mưu quyết đoán nên việc gì cũng thành công, được Hưng quốc công Nguyễn Kim rất tin yêu” [26, 22] nên quyết định gả con gái thứ là Ngọc Bảo. Với niềm tin đó, Trịnh Kiểm đã làm tốt nhiệm vụ của mình như việc lên biên giới Việt Lào đón vua Lê Trang Tông về nơi hành tại tạm thời của triều đình (sách Thúy Thuần, Cẩm Thủy), vận động liên kết với các phụ đạo các mường (tức lang đạo), các dân tộc miền núi Thanh Hóa, Nghệ An để tăng cường lực lượng, ảnh hưởng và thanh thế cho nghĩa quân (phù Lê), đem quân đi đánh Nghệ An, đuổi Mạc ra khỏi các vùng Thanh Hoa, đánh chiếm thành Tây Đô, đem quân đánh Mạc không trận nào là không thắng. Năm 1539 ông được vua phong tước Dực quận công Đại tướng quân, quyền uy chỉ đứng sau vua và Nguyễn Kim. Từ một đứa trẻ mồ côi, thất học, Trịnh Kiểm với tài năng của mình đã vươn lên vị trí quan trọng dưới triều Lê Trung Hưng.
Năm 1543, Trịnh Kiểm cùng các tướng lĩnh đánh chiếm thành Tây Đô, đón vua về đó để hợp lực ba quân, Nguyễn Kim đang ở Ai Lao cũng được mời về. Chiếm được thành Tây Đô là một chiến công lẫy lừng của nhà Lê cũng như Trịnh Kiểm, thể hiện tài năng quân sự của ông trước sức mạnh của quân đội nhà Mạc. Vùng Thanh Hoa sau 1527 vẫn thuộc chủ quyền nhà Mạc cho đến thời điểm năm 1543 đã ngày càng mất dần thế làm chủ, những đợt chống trả trước sự tấn công của nhà Lê Trung Hưng hầu như thất bại, dẫn đến việc khu vực này rơi vào sự kiểm soát của nhà Lê. Năm 1544, Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm thay thế nắm trong tay tất cả quyền bính, ông được trao chức Đô tướng, Tiết chế tất cả các doanh thủy bộ, kiêm coi tất cả việc quân, việc trong ngoài triều, với tước Thái sư Lạng quốc công của mình, Trịnh Kiểm được quyền ban chức tước rồi tâu sau.
Năm Bính Ngọ (1546), nhà Lê lập hành điện ở sách Vạn Lại (nay là xã Vạn Lại, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), xếp đặt quan lại như một triều đình, quản lý toàn bộ miền Thanh Nghệ, sử cũ gọi là Nam Triều để phân biệt với Bắc Triều của nhà Mạc. Cũng từ đây, cơ đồ nhà Lê do Trịnh Kiểm chi phối, điều hành. Với công lao của ông với nhà Lê, ông được sử cũ ca ngợi “phàm có đánh dẹp, đều ủy cho thái sư Lạng quốc công thống lĩnh, đánh đâu được đấy, do đấy hào kiệt các châu Ô Quảng Hoan Diễn đua nhau đến dinh môn, ai cũng vui lòng giúp sức” [12, 136].
Sau này, năm Mậu Thân (1548), vua Lê Trang Tông mất, con mới tám tuổi nên mọi công việc kể cả cầm quân đánh nhà Mạc cũng như công việc triều chính đều do ông gánh vác. Cũng chính vì thế, vai trò Trịnh Kiểm ngày càng đậm nét. Năm 1570 Trịnh Kiểm mất, khi cuộc chiến với nhà Mạc còn đang tiếp diễn và ngày một khốc liệt. Cuộc đời Trịnh Kiểm gắn liền với sự nghiệp binh lửa chống lại nhà Mạc, phò giúp vua Lê.
Sự nghiệp của Trịnh Kiểm cũng như các chúa Trịnh sau này còn nhiều điều đáng bàn, tuy nhiên một điều chúng tôi quan tâm đó là: “nhân cách và tài năng của Trịnh Kiểm có ảnh hưởng như nào đến sự nghiệp Lê Trung Hưng và công cuộc ổn định xã hội Đại Việt thế kỷ XVI của nhà Mạc?”
Đến nay có hai luồng ý kiến khi bàn về Trịnh Kiểm:
Luồng ý kiến thứ nhất: thiên về ca ngợi Trịnh Kiểm và công lao của ông đối với lịch sử triều Lê Trung Hưng và đất nước nên họ bỏ qua tất cả những hạn chế của nhân vật lịch sử hoặc tìm cách biện minh, thần tượng hóa. Đại diện là các sử gia phong kiến, những cuốn gia phả dòng họ, những truyền thuyết hư cấu..
Luồng ý kiến thứ hai: chỉ rõ tài năng và thành công của Trịnh Kiểm nhưng cũng không quên nguồn gốc xuất thân và những việc làm của ông trước khi ra phò giúp nhà Lê – điều ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp nhà Mạc. Từ đó đánh giá về ảnh hưởng của Trịnh Kiểm đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XVI. Đại diện là quan điểm của La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Dẫu chỉ là vấn đề nguồn gốc xuất thân hay tiểu sử của nhân vật nhưng lại là mấu chốt để tìm ra lời giải về ảnh hưởng của nhân vật này đối với lịch sử dân tộc.
Theo GS. Hoàng Xuân Hãn khi nghiên cứu về “Gốc tích Trịnh Kiểm” đã đi đến một kết luận như sau: “Chắc không phải vì danh nghĩa phù Lê đâu, như sau sẽ thấy. Chỉ vì tính ngang tàn, thích phiêu lưu hành động, lại có thêm óc lãnh tụ, lắm thủ đoạn gian hùng. Gặp được cơ hội Nguyễn Kim cần người giúp rập, cuộc khởi nghĩa cần tay táo bạo, Trịnh Kiểm ra tài hùng dũng, thỏa chí phiêu lưu” [45, 649].
Không cùng quan điểm Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nhiều quan điểm khen ngợi Trịnh Kiểm và biện hộ cho những hành động thuở nhỏ của ông, thậm chí cho rằng “thấy ông tính khí lạ lùng, trong làng có nhiều người ghét, có người muốn hãm hại ông” [26, 22], rồi đi đến ca ngợi con người, tài năng của ông. Tuy vậy, các tác giả đều rút ra kết luận “Họ Trịnh (cũng như họ Nguyễn) tôn phò vua Lê vì yêu cầu có thực lực, có chính nghĩa để đánh thắng Mạc. Đó là yêu cầu có tính chiến lược trong công cuộc chiến tranh với Mạc, không vì lòng thương xót di duệ của các vua thời Hậu Lê” [26, 102] mà nhằm mục đích cao nhất “Ngôi vua Lê đã trở thành chỗ dựa của tập đoàn quân sự phong kiến họ Nguyễn (Kim), họ Trịnh (Kiểm và con cháu ông) cầm đầu để chống lại tập đoàn quân sự họ Mạc (đã lập triều đại mới), tranh giành ngôi vương bá” [26, 103].
Vậy, tranh giành bá vương liệu đó có phải là thực chất của ngọn cờ “Phù Lê diệt Mạc”? Để đạt được cái đích ấy, cần có một bản lĩnh phi thường và có năng lực thực sự mới lôi kéo, cuốn hút được sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân để chống lại vương triều Mạc đã thành lập và đang từng bước đưa xã hội vào sự ổn định. Trịnh Kiểm đã đáp ứng được yêu cầu đó và thành công.
Có thể nói, Trịnh Kiểm là một vị tướng tài, từng có công lớn với nhà Lê Trung Hưng. Tất nhiên, trong hoàn cảnh đó, việc lập lại ngai vàng cho các vua Lê chỉ là danh nghĩa, vì “từ đầu thế kỷ XVI, vua Lê chỉ còn hư vị, là bức bình phong là chỗ dựa cho các tập đoàn phong kiến giương cao ngọn cờ “phù Lê, diệt Mạc” nhằm thu phục nhân tâm, chiêu tập những công thần của Lê cựu” [65, 73]. Tiếc là, công cuộc trung hưng ấy được tiến hành khi triều đình phong kiến Lê sơ đã mục ruỗng và xã hội Đại Việt đang dần đi vào ổn định dưới các triều vua Mạc. Hai sự nghiệp của hai dòng họ song song tồn tại trong một khoảng thời gian dài đã tác động không nhỏ đến lịch sử dân tộc và số phận của nhân dân Đại Việt.
Ở đây, chúng ta không chỉ trích dòng họ Trịnh, Nguyễn vì xét một cách tường tận, trong thời điểm lịch sử khi Nho giáo còn chi phối nặng nề tư tưởng và hành động con người, thì việc làm của họ là có lý. Tuy nhiên, tư tưởng trung quân ấy cũng chỉ là một cái cớ để các lực lượng tiến hành tham vọng của mình. Xét một cách nghiêm túc, điểm xuất phát ban đầu của Trịnh Kiểm không giống Nguyễn Kim, có chăng Trịnh Kiểm đã biết phát huy khả năng của mình khi ngọn cờ phù Lê được dựng lên và từng bước thành công mà thôi.
Với Trịnh Kiểm, ta cần công tâm nhìn nhận ảnh hưởng của nhân vật này đối với lịch sử dân tộc. Điều đầu tiên cần nhận thức rằng, Trịnh Kiểm ban đầu tham gia công cuộc Trung Hưng không phải vì chí hướng quyết khôi phục lại sự nghiệp nhà Lê mà chỉ đơn thuần là tìm một chốn nương thân (sở cứ). Ban đầu, với khả năng của mình, Trịnh Kiểm là người trông ngựa cho tướng nhà Mạc nhưng với hoàn cảnh bấy giờ, khi ngọn cờ phù Lê được dựng lên, Trịnh Kiểm đã không dừng lại mà đi tìm cho mình minh chủ mới để thỏa chí phiêu lưu của mình. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của Nguyễn Kim trong buổi đầu gây dựng cơ đồ Trung Hưng, cần những con người có năng lực, có tính mạo hiểm, dũng cảm, liều lĩnh như Trịnh Kiểm. Việc Trịnh Kiểm được tuyển chọn và được tin cậy làm con rể của Nguyễn Kim đã giúp Trịnh Kiểm leo lên từng thang bậc quyền lực. Từ chỗ theo Nguyễn Kim và tham gia những công việc thuần túy với mục tiêu quân sự, Trịnh Kiểm đã biến thành mục tiêu của cuộc đời ông ta, vươn lên nắm toàn quyền sau khi Nguyễn Kim qua đời và làm chủ hệ thống chính quyền cũng như quân đội nhà Lê Trung Hưng.
Như vậy, hai con người (Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm) tiến hành sự nghiệp khôi phục hoàng quyền nhà Lê xuất phát từ hai điểm khác nhau nhưng đều có chung một mục đích và thủ đoạn, mượn danh nghĩa phù Lê diệt Mạc để đạt được mục đích của mình. Nếu Nguyễn Kim vượt mọi khó khăn để khôi phục nhà Lê thì Trịnh Kiểm ban đầu chỉ đơn thuần tìm chốn nương thân mà thôi, và với tính cách của mình, Trịnh Kiểm đã làm khuynh đảo sự nghiệp nhà Mạc cũng như chi phối không nhỏ lịch sử dân tộc trong suốt thế kỷ XVI. Tuy vậy, những gì mà nhân vật này và con cháu ông những thế kỷ sau đạt được là điều không thể phủ nhận. Dẫu có đánh giá thế nào về Dực quận công Trịnh Kiểm thì cũng không thể phủ nhận một điều: “khi “cờ đến tay” thì Trịnh Kiểm trở thành một dũng tướng có tài thao lược, có đức độ thu phục lòng người, đánh chiếm được hai phần ba đất đai cả nước” [4,163].
Nói tóm lại: nhà Mạc đã thành công trong công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 đến 1546 với công lao của ba vị vua đầu triều Mạc, tuy nhiên, những thành tựu ấy đã không được phát huy hay không cứu vãn nổi sự sụp đổ của nhà Mạc giai đoạn sau này. Trên đây là những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của nhà Mạc, tuy nhiên có thể khẳng định rằng: nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự sụp đổ của nhà Mạc năm 1592 đó chính là sự chống đối của các thế lực ủng hộ nhà Lê với ngọn cờ “Phù Lê diệt Mạc”. Vì thế, trong lịch sử dân tộc thế kỷ XVI, trên lãnh thổ Đại Việt cùng một lúc tồn tại hai vương triều: triều Mạc và triều Lê Trung Hưng, để hợp thức sự tồn tại của mình, cả hai vương triều đã nỗ lực trong việc củng cố quyền lực cho mình đồng thời khuynh loát lẫn nhau cho đến khi một trong hai gục ngã. Cuộc nội chiến kéo dài hàng thập kỷ đã làm tổn thương đến ý chí thống nhất và tình cảm dân tộc, gây bao đau thương cho nhân dân và chia cắt, giày vò đất nước. Tuy nhiên, theo cách nói của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì sự tái lập nhà Lê với vai trò của Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm: “cũng có một kết quả hay nhưng bất ngờ: Nguyễn Hoàng vào phương Nam gây đầu mối của sự bành trướng văn hóa và dân tộc Việt Nam vào góc Đông Nam châu Á, bành trướng mạnh nhất trong khoảng hưu binh gần một trăm năm giữa Bắc và Nam” [45, 669] và làm tăng thêm không gian sinh tồn cũng như văn hóa cho dân tộc Việt.
Thế kỷ XVI với bao biến động, sự thiết lập của nhà Mạc, sự Trung Hưng của nhà Lê, cuộc nội chiến Nam – Bắc triều và sự xuất hiện của Nguyễn Hoàng nhưng cần khách quan nhìn nhận: Các lực lượng trên đều có những đóng góp nhất định đối với lịch sử dân tộc. Trong nửa đầu thế kỷ XVI, vai trò ổn định xã hội thuộc về nhà Mạc như lời nhận xét của TS. Đỗ Đức Hùng: “thời kỳ đầu dưới thời Mạc Đăng Doanh (1530 -1540) bằng các biện pháp quản lý có hiệu quả, nhà Mạc đã tạo nên được một thập kỷ khá huy hoàng trong lịch sử mà ngay chính các sử thần triều Lê cũng phải ghi nhận. Tóm lại là sau khi giành ngôi từ vua từ tay nhà Lê (1527) đến những năm 1546, nhà Mạc đã tạo ra được gần hai thập kỷ tương đối yên ổn trên địa bàn chủ yếu của mình là vùng Đồng bằng Bắc bộ”. Còn đối với các thế lực Lê – Trịnh, Nguyễn, dẫu cuộc chiến và sự phân cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài kéo dài trọn một thế kỷ thì những thành tựu đạt được trong thời kỳ này cũng đáng được ghi nhận. Nếu nhà Lê – Trịnh đã duy trì xã hội Đại Việt đứng vững trong một thời gian dài với nhiều thành tựu trên các lĩnh vực sau thành công của một số cuộc cải cách thì nhà Nguyễn ở Đàng Trong đã có công lớn trong việc mở mang lãnh thổ Đại Việt trong suốt các thế kỷ XVI, XVII, XVIII – một “thời kỳ của những thế hệ đã có một tinh thần tiến thủ và ý chí khai thiết đặc biệt trong lịch sử dân tộc, thời kỳ của những công trình mở rộng cương thổ trên một phần đất quan trọng ở phương Nam” [32, 5]. Đó chính là sự biện chứng của lịch sử.
KẾT LUẬn
1. Nhà Mạc là một triều đại chính thống trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Đối chiếu những điều này vào lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, bên cạnh các triều đại như Lý, Trần, Lê sơ… nhà Mạc có đầy đủ tiêu chí của một vương triều chính thống từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam. Nhà Mạc không lên ngôi từ sau chiến thắng của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng không nắm quyền uy từ sau một cuộc tàn sát đẫm máu nhưng những biện pháp của nhà Mạc tiến hành để nắm quyền lực hết sức ôn hòa và khá thuyết phục. Sự khủng hoảng của xã hội Đại Việt kéo dài hơn ¼ thế kỷ dưới sự cai trị của các vua Lê bất tài thất đức từ vua Lê Uy Mục đã dẫn đến sự khủng hoảng cả về mặt tinh thần lẫn triều chính. Những nguyên tắc của Nho giáo trong thời kỳ này đã mất đi giá trị như khi nó thịnh trị, trong một xã hội thực sự “nhốn nháo” (Trần Quốc Vượng), nếu không phải là Mạc Đăng Dung thì cũng là một lực lượng khác tiến hành sự thay ngôi đổi vị. “Lịch sử đã chọn Mạc Đăng Dung hay nói cách khác qua thực tiễn hoạt động của Mạc Đăng Dung đã tỏ ra vượt trội hơn hẳn những người khác về uy tín và tài năng. Ông được lòng người ủng hộ và đáp ứng được yêu cầu lịch sử” [25, 37]. Quãng thời gian tồn tại của nhà Mạc trong gần một thế kỷ (1527 – 1592) với những thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực đã mang lại một xã hội ổn định, thái bình.
2. Nhà Mạc sau khi lên ngôi đã có nhiều nỗ lực để duy trì một xã hội ổn định. Về mặt tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, nhà Mạc đã quản lý được xã hội Đại Việt và làm chủ trên một lãnh thổ rộng lớn từ vùng Tam Điệp trở ra Bắc, chính quyền trung ương chi phối đến tận cơ sở là làng xã và những vùng biên viễn. Đây cũng là triều đại không có chiến tranh xâm lược, nhà Mạc đã bằng sách lược ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo để tránh một cuộc chiến không cân sức để tập trung cho việc khôi phục, ổn định lại đất nước.
3. Ba vị vua đầu triều Mạc đã thành công trong việc duy trì sự ổn định của xã hội Đại Việt. Là anh hùng lập thân thời loạn, Mạc Đăng Dung – người khai sáng ra triều Mạc, hiểu được giá trị của độc lập dân tộc và phát triển đất nước, ông và con cháu mình đã nỗ lực không ngừng cho lý tưởng ấy. Những nỗ lực xây dựng quốc gia dân tộc đã mang lại cho nhân dân cuộc sống ấm no, yên bình. Nếu so sánh với các triều đại trước và sau đó thì triều Mạc đã làm được nhiều điều cho nhân dân và dân tộc. Dựa trên những đóng góp của nhà Mạc, có thể khẳng định đây cũng là thời kỳ Đại Việt ổn định và có yếu tố phát triển.
Chúng ta biết rằng nhà Mạc lên thay nhà Lê trong bối cảnh xã hội Đại Việt đã rơi vào khủng hoảng sâu sắc. Nhà Lê Sơ rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Nạn bao chiếm ruộng đất đã tước đọat một cách công khai số ruộng đất vốn ít ỏi của nông dân, số ruộng tư hữu ngày càng nhiều và tình trạng bóc lột nông dân đến cùng cực càng trở nên phổ biến, làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có của địa chủ, quan lại với nông dân. Nông nghiệp ngày một sa sút, mất mùa, đói kém, hỗn chiến giữa các phe phái khiến xã hội ngày càng khủng hoảng hơn. Những nỗ lực của các trung thần như Lương Đắc Bằng với kế sách trị bình cũng không thể thay đổi được thực trạng đó… Một xã hội độc tôn Nho giáo với hệ tư tưởng trọng nông ức thương và thứ bậc “sĩ, nông, công, thương” đã kìm hãm sự phát triển của các ngành công thương nghiệp. Xã hội tiểu nông bao quanh đời sống xã hội Đại Việt trong bao năm đã khiến nó dù phát triển đến mấy vẫn chìm trong vòng luẩn quẩn. Giai cấp thống trị thấm nhuần tư tưởng Tống nho càng ra sức giữ cho xã hội ấy không thoát khỏi vòng cương tỏa của mô hình xã hội tiểu nông. Mạc Đăng Dung sáng lập ra triều Mạc trong bối cảnh xã hội đầy biến động đó. Những điều mà nhà Mạc đạt được trong giai đoạn này trên rất nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa xã hội. Đặt những thành tựu ấy trong khung cảnh chính trị những năm nửa đầu thế kỷ XVI mới thấy hết giá trị và vai trò to lớn của các vị vua Mạc.
Về kinh tế: Nền nông nghiệp khá ổn định với chính sách binh điền. Với số lượng lính đông đảo, nhà Mạc vừa đảm bảo số ruộng cho binh lính để họ yên tâm chiến đấu, tận tụy với nhà Mạc, vừa đáp ứng phần nào nhu cầu ruộng đất cho nông dân làng xã. Thủ công nghiệp cũng đạt những thành tựu rực rỡ do được nhà nước tạo điều kiện. Hoạt động trao đổi mua bán trong và ngoài nước khá tấp nập, trên quy mô rộng lớn, chủ yếu là trao đổi các mặt hàng thủ công nghiệp trong đó gốm sứ – là những mặt hàng có thế mạnh của Đại Việt. Hiếm lúc nào, nhân dân Đại Việt đạt được sự cởi mở phóng khoáng trong hoạt động sản xuất cũng như đời sống tinh thần như thời kỳ này. Đó không phải là một cuộc cách mạng nhưng cũng là một thành tựu của một cuộc cải cách ở gian đoạn tiền đề.
Về văn hóa, giáo dục: Nếu so sánh về số lượng các kỳ thi và người tham gia thi thì nhà Mạc chỉ đứng sau nhà Lê sơ, còn về chất lượng thì nhà Mạc không kém bất cứ một triều đại nào. Tài năng của các vị đại khoa được ví như những cây cổ thụ mà bóng của nó bao trùm cả nền văn hóa dân tộc thế kỷ XVI, tiêu biểu là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Nguyễn Dữ…. Sự cạnh tranh, thu hút nhân tài của nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng còn đem lại một xã hội Đại Việt mà nhân dân có trình độ dân trí cao hơn, tạo điều kiện cho nền văn hóa dân tộc thời kỳ này có nhiều khởi sắc.
Sự cởi mở, tự do trong hoạt động tôn giáo tín ngưỡng, việc dung hòa các tôn giáo khiến Nho giáo không còn là hệ tư tưởng độc tôn như thời Lê sơ, đã tạo điều kiện cho nhà Mạc có một nền văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI có thể coi như sự gạn lọc những tinh hoa để thu nhận về mình một nền văn hóa đặc sắc, có nhiều nét mới mẻ, phong phú hơn so với nền văn hóa Lý – Trần, văn hóa thời Lê sơ. Đây chính là thành tựu lớn mà nhà Mạc đạt được, nhân dân có được một cuộc sống phóng khoáng cởi mở, không bị gò ép trong những lễ giáo phong kiến hà khắc, họ được tự do sáng tạo với những ý tưởng của mình. Vì vậy, những công trình kiến trúc, điêu khắc của nhà Mạc mang tính dân gian đậm nét, cởi mở và phong phú hơn nhiều so với các triều đại khác. Điều này không phải triều đại nào cũng có thể làm và làm tốt như triều Mạc.
4. Đặt trong sự đối sánh nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng trong khoảng thời gian từ 1527 đến 1546, nhà Mạc đã thành công với công cuộc khôi phục và ổn định xã hội, nổi bật hơn rất nhiều nhà Lê Trung Hưng, dẫu thất bại cuối cùng thuộc về họ. Chiến thắng đã thuộc về những người biết tận dụng ngọn cờ phù Lê. Thất bại của nhà Mạc có nhiều nguyên nhân, trong đó những hạn chế và sự suy yếu của nhà Mạc đặc biệt trong giai đoạn sau này (sau thời vua Mạc Phúc Hải) đã khiến nhà Mạc ngày càng khó khăn trước sự tấn công của các thế lực ủng hộ nhà Lê. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự thất bại của nhà Mạc sau này chính là do tác động của ngọn cờ
“Phù Lê diệt Mạc” với sự nghiệp Trung Hưng do các công thần nhà Lê đảm nhiệm, nổi bật lên vai trò của Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm.
5. Ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” được các cựu thần nhà Lê lấy danh nghĩa không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nhà Mạc mà còn mang lại nhiều hệ quả. Trong quá trình nội chiến Nam – Bắc triều, trong lòng lực lượng Nam triều đã nảy sinh mâu thuẫn. Sự tranh giành quyền lực của các thế lực mượn danh nghĩa phù Lê đã mang đến cho lịch sử một hệ quả “hay mà bất ngờ” đó là đó là công cuộc Nam tiến của dân tộc và sự mở rộng về lãnh thổ và văn hóa của Đại Việt vào tận mũi Cà Mau với vai trò của các chúa Nguyễn.
Có thể nói, nhà Mạc là một vương triều chính thức tồn tại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Khoảng thời gian từ 1527 đến 1546 được coi là thời kỳ thịnh trị của xã hội Đại Việt dưới sự cai trị của ba vị vua đầu nhà Mạc, với những thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, giáo dục. So sánh với các triều đại khác thì nhà Mạc không thua kém, thậm chí trong một số lĩnh vực như thủ công nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, khó có triều đại nào sánh bằng. Sự xác lập vương quyền nhà Mạc, việc thay thế nhà Lê của nhà Mạc trong buổi đầu còn nhiều khó khăn đã khiến nhà Mạc có nhiều chủ trương tiến bộ để thu phục lòng người, cùng với cái nhìn thoáng đạt của một dòng họ xuất thân từ miền biển đã khiến họ có những chủ trương cởi mở nhưng hết sức đúng đắn, thức thời. Dẫu chỉ tồn tại chính thức trong 65 năm nhưng điều không thể phủ nhận: xã hội Đại Việt sau bao năm điêu linh, loạn lạc, khủng hoảng cuối thời Lê sơ đã đi vào ổn định và từng bước phát triển dưới sự trị vì của ba vị vua đầu triều Mạc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TRONG NƯỚC
- Phạm Thị Phương Anh, (2008), Khảo sát truyền thuyết về Mạc Đăng Dung ở vùng Kiến Thụy – Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Ban Liên lạc họ Mạc, (2007), Hợp biên thế phả họ Mạc, Nxb Dân tộc, Hà Nội.
- Nguyễn Lương Bích, (2000) Lược sử Ngoại giao Việt Nam các thời trước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
- Đào Công Chính, (1676), Đại Việt Lê triều đế vương trung hưng công nghiệp thực lục, Dịch và chú giải Hoàng Văn Lâu.
- Phan Huy Chú, (1961), Lịch triều hiến chương loại chí – Tập I, Nxb Sử học, Hà Nội.
- Phan Huy Chú, (1961), Lịch triều hiến chương loại chí Tập II, Nxb Sử học, Hà Nội.
- Phan Huy Chú, (1961), Lịch triều hiến chương loại chí – Tập III, Nxb Sử học, Hà Nội.
- Phan Huy Chú, (1961), Lịch triều hiến chương loại chí – Tập IV, Nxb Sử học, Hà Nội.
- Ngô Kim Chung, (1975), “Ruộng đất tư hữu và những hình thức khai thác ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời phong kiến”, Tạp chí Kinh tế số 85.
10. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, (2007), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
11. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH KHXHNV, Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb Thế giới.
12. Đại Việt sử ký toàn thư – tập IV, (1973), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
13. Nguyễn Đình Đầu, (1990), Việt Nam Quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
14. Hải Đoan, (2004), “Sơ lược về văn học đời Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
15. Lê Quý Đôn, (1978), Đại Việt thông sử – tập III, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
16. Lê Quý Đôn, (1977), Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
17. Mạc Đường, (2005), Góp phần đổi mới quan điểm đánh giá vương triều Mạc, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh.
18. Thu Hiền, (2004), “Một số nhận định về Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hải Phòng.
19. Ngọc Hoa, (2004), “Nguyễn Bỉnh Khiêm với vương triều Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
20. Lê Văn Hòe, (1959), Hồ Quý Ly Mạc Dăng Dung, Quốc học thư xã, Hà Nội.
21. Phạm Đình Hổ, (1972), Vũ trung tùy bút, Nxb Văn học, Hà Nội.
22. Hội đồng Lịch sử Thành phố Hải Phòng, (1990), Địa chí Hải Phòng, Hải Phòng.
23. Hội đồng Lịch sử Thành phố Hải Phòng, (1995), Lịch sử Đảng bộ xã Ngũ Đoan, Nxb Hải Phòng.
24. Hội đồng lịch sử Hải Phòng, Viện Sử học, (1991), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Phòng.
25. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, (1998), Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc, Hội Sử học Hải Phòng.
26. Phạm Xuân Huyên, (1995), Sự nghiệp các chúa Trịnh trong lịch sử, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
27. Nguyễn Hải Kế, (2005) “Hải Phòng vùng đất bị lãng quên thời Lê Sơ”, TCNCLS số 1.
28. Phạm Khang, (2008) Chúa Trịnh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
29. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, (2006), Văn học Việt Nam, Thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
30. Vũ Ngọc Khánh, (2008), Người có vấn đề trong lịch sử nước ta, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
31. Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, (2003) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Phan Khoang, (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh.
33. Lưu Văn Khuê, Ngô Đăng Lợi (2007), Mạc Đăng Dung – tiểu thuyết Lịch sử, Nxb Hải Phòng, Hải Phòng.
34. Trần Trọng Kim, (2005), Việt Nam sử lược, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
35. Đỗ Thị Thùy Lan, (2008), “Vùng cửa sông Đàng Ngoài thế kỷ XVI – XVIII Batsha và mối liên hệ với quê hương nhà Mạc”, TCNCLS, số 1.
36. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (chủ biên), (2000), Từ điển nhân vật Lịch sử Việt Nam,Nxb Giáo dục, Hà Nội.
37. Phan Huy Lê, (1962), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập II, Nxb Sử học, Hà Nội.
38. Tạ Ngọc Liễn (Chủ biên), Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Đức Nhụê, Nguyễn Minh Tường, Vũ Duy Mền, (2007), Lịch sử Việt Nam thế kỷ XV – XVI, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
39. Nguyễn Đình Long, (2007), Chuyện lịch sử Việt Nam từ năm 1533 – 1793; Cuộc trung hưng gian khó, Nxb Thế giới, Hà Nội.
- 40. Lưu Văn Lợi, (2000), Ngoại giao Đại Việt, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.
41. Ngô Đăng Lợi, Trần Thị Vinh, Nguyễn Quang Ân, (1996), Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Hà Nội.
42. Ngô Đăng Lợi, (2004), “Sách lược ngoại giao của vương triều Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
43. Hoàng Lưu, (2004), “Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
44. Phạm Ngô Minh, Lê Duy Anh, (2001), Nhân vật họ Lê trong Lịch sử Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
45. Hữu Ngọc, Nguyễn Đức Hiền (sưu tập và biên soạn), (1998), La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn – Tập II, trước tác, phần II – Lịch sử, Nxb Giáo dục.
46. Quang Ngọc, (2004), “Gốm sứ thời Mạc”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
47. Lại Cao Nguyên, (2004), “Vụ tranh chấp giữa Trịnh Tùng và Trịnh Cối”, Tạp chí Xưa và nay, số 217.
48. Nguyễn Tá Nhí, (1997), Việt sử diễn âm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
49. Văn Ninh, (1983), Thành cổ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
50. Nguyễn Danh Phiệt (1997), Hồ Quý Ly, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
51. Nguyễn Danh Phiệt, (2004), “Việt Nam thời Mạc – cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh và Mạc”, TCNCLS, số 9.
52. Nguyễn Huy Phúc, Lê Văn Bảy, (2006), Lê triều dã sử, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
53. Vũ Huy Phúc, (1978), “Mấy ý kiến về chính sách nông nghiệp của Nhà nước thời trung đại Việt Nam”, TCNCLS, số 3.
54. Trần Phương, (2004), “Di sản văn hóa lộ thiên ở Dương Kinh”, Tạp chí Cửa biển, Hội Liên hiệp văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 75.
55. Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, (1977), Lịch sử Việt Nam 1427 – 1858, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
56. Trương Hữu Quýnh, (1983), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XVI – XVIII, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
57. Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, (2000), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
58. Trần Xuân Sinh, (2005), Việt sử kỷ yếu, Nxb Hải Phòng, Hải Phòng.
59. Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng (1991), Thư viện Hải Phòng, Nhân vật Lịch sử Hải Phòng, tập I.
60. Nguyễn Văn Sơn, (1997), Di tích thời Mạc vùng Dương Kinh, Hải phòng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
61. Nguyễn Hữu Tâm, (1991), “Tình hình giáo dục thi cử nhà Mạc”, TCNCLS, số 6.
62. Đinh Khắc Thuân, (1996), Văn bia thời Mạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
63. Đinh Khắc Thuân, (2001), Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
64. Nguyễn Khắc Thuần, (2006), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, tập IV, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học, (1993), Vương triều Mạc 1527 – 1592, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Từ điển Hán Việt, (Quyển hạ), xuất bản 1932.
- Nguyễn Minh Tường, (1991), “Quan hệ bang giao giữa nhà Mạc và nhà Minh thế kỷ XVI”, TCNCLS, số 6.
- Đào Trí Úc, (1994), Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV – thế kỷ XVI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học xã hội, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, (2000), Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
70. Viện khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb Giáo dục.
- Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, (2007) Lê Quý Đôn – Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Trần Thị Vinh, (1991), “Thiết chế nhà nước thời Mạc”, TCNCLS, số 6.
- Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I.
- Trần Quốc Vượng, (2003), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Sử học, (2006), Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thủy đến 1858, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI
- Nghiêm Tòng Giản, Thù vực chu tư lục, sách nguyên văn chữ Hán.
- Keith Weller Taylor, John K. Whitmore, (1995), Essay into Vietnamese pasts, SEAP, Publication.
- Leo Kwok-yueh Shin, (2006), The making of the Chinese state: ethnicity and exspansion on the Ming boderlands, Cambridge University Press.
- Nicholas Tarling, (2000), History of the Southeast Asia: from 1500 to 1800, Cambridge University Press,
- Victor B. Lieberman, (2003), Southeast Asia in global context, c800-1830, Cambridge University Press.
Viết bình luận
Tin liên quan
-
83 năm Nhà Mạc ở Cao Bằng của Tác giả: Phạm Huy Thực (Trang Mạc Tộc Nghệ An)
-
GỌI THẾ NÀO CHO ĐÚNG. Tác giả : Hoàng Cương.
-
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM
-
VÈ ĐỀN BÀ CHÚA CỘT CỜ Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
-
THỜI KỲ CÁC VUA MẠC CỦA VƯƠNG QUỐC CAO BẰNG (1593-1683)
-
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: VĂN BIA HÁN NÔM THỜI MẠC: TƯ LIỆU VÀ KHẢO CỨU. Tác giả: GSTS Đinh Khắc Thuân.
-
VỀ SỰ KIỆN BIÊN GIỚI NĂM 1540 GIỮA NHÀ MINH VÀ NHÀ MẠC.
-
ĐÌNH TÂY ĐẰNG: VẺ ĐẸP KIẾN TRÚC GỖ TIÊU BIỂU THỜI MẠC
-
VỀ NHỮNG THIÉU SÓT VÀ BẤT HỢP LÝ TRONG SỬ SÁCH VỀ MẠC ĐĂNG DUNG VÀ NHÀ MẠC.
-
MẠC ĐĨNH CHI: TÀI NĂNG XUẤT CHÚNG KHIẾN TRIỀU THẦN NHÀ NGUYÊN KÍNH NỂ.
- NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Nghệ An
- ĐỊA CHỈ MỘT SỐ DI TÍCH NHÀ MẠC VÀ DANH THẮNG CƠ BẢN Ở TỈNH CAO BẰNG
- CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC THỜI MẠC
- Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”
- Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử
- LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Bắc Giang
- HẬU TÁI ĐỊA DANH CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC