Thống kê truy cập
- Đang online: 3
- Hôm qua: 1397
- Tuần nay: 29960
- Tổng truy cập: 3,969,770
Phim video họ Mạc
MẠC ĐĂNG LƯỢNG (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
06/05/2026
- 42 lượt xem
MẠC ĐĂNG LƯỢNG.
Minh Nghĩa đại vương
Thông tin chung
Tự Cát Giang tử
Học vấn Tiến sĩ
Tước hiệu Minh Nghĩa đại vương
Giới tính Nam
Sinh 1496
Mất : 16/6 âm lịch / 1604 (108 tuổi)
Triều đại Hậu Lê, Mạc
Mạc Đăng Lượng (1496-1604) là một võ quan được phong tước Quốc công dưới triều Hậu Lê.[1] Triều Mạc từng được phong chức Phó quốc vương[2] dưới thời nhà Mạc và được Mạc Thái Tổ phong tước Hoàng quận công.
Mục lục
1 Thân thế và sự nghiệp
2 Thờ tự
3 Gia đình
4 Tham khảo
Thân thế và sự nghiệp:
Mạc Đăng Lượng tự Cát Giang Tử tức Hoàng Đăng Quang sinh năm 1496 quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là Thôn Long Động xã Nam Tân, huyện Nam Sách, Trấn Hải Dương).
Ngài là con cả của cụ Mạc Đăng Trắc và cụ bà Đậu Thị Minh. Ông là bậc chú của Mạc Thái Tổ . Ông là cháu 7 đời của Lưỡng quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi (đời Trần) và là Hậu Duệ đời thứ 11 của Trạng Nguyên Mạc Hiển Tích (đời Lí) và có quan hệ họ hàng với Hoàng tộc nhà Mạc.
Năm 17 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tước Quốc Công dưới triều Hậu lê, do chán ghét các phe phái tranh giành ngôi vua, ông cáo quan về ở ẩn nơi sinh ra ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc Làng Cổ trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng).
Năm 1527, Mạc Thái Tổ lập lên triều Mạc, cho mời ông ra phò tá, ban tước Hoàng quận công.
CHIẾU CHỈ (1)
詔旨
皇朝大正七年二月十六日本朝第二
皇帝令旨莫登光莫登俊等奉差往乂安處英都府南壇縣都鄧邑施行公務 .
右令旨
须至莫登光莫登俊準 .
欽此
Phiên âm:
Hoàng triều Đại Chính thất niên nhị nguyệt thập lục nhật bản triều đệ nhị
Hoàng đế lệnh chỉ: Mạc Đăng Lượng, Mạc Đăng Tuấn đẳng phụng sai vãng đáo Nghệ An xứ Anh Đô phủ Nam Đàn huyện Đô Đặng ấp thi hành công vụ.
Hữu lệnh chỉ.
Tu chính Mạc Đăng Lượng, Mạc Đăng Tuấn chuẩn.
Khâm thử!
Dịch nghĩa:
Vào ngày 16 tháng 2 niên hiệu Đại Chính thứ 7 (1535) Hoàng đế Thái Tông Mạc Đăng Doanh có chiếu chỉ ban xuống cho hai ông Mạc Đăng Lượng, Mạc Đăng Tuấn vâng theo chiếu chỉ vào ấp Đô Đặng huyện Nam Đường phủ Anh Đô xứ Nghệ An thi hành Công vụ.
Chiếu chỉ này chuyển đến các ông Mạc Đăng Lượng, Mạc Đăng Tuấn.
Kính thay!
Trong chiến tranh Nam-Bắc triều, ngày 16 tháng 2, 1535 (năm Đại Chính thứ 7) ông phụng chiếu Mạc Thái Tông, ông cùng em trai Mạc Đăng Tuấn đã đưa hơn một vạn quân vào trấn thủ đất Hoan Châu. Đóng quân xứ Tiên Đô.Lập 2 tuyến phòng thủ từ huyện Nam Đường tới phủ Anh Sơn: Tuyến 1: Phủ Anh sơn, cả một vùng Tây Bắc giáp động núi Lĩnh sơn, Đông Nam giáp sông Lam ngày nay. Tuyến 2: Huyện Nam đường, Nam giáp Động núi Lĩnh sơn, Bắc giáp núi Đại Huệ. Ngài có công chiêu lập 137 hộ dân tiền thân các dòng họ lớn ở Tổng Đặng sơn (ngày nay thuộc 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn tỉnh Nghệ An)
Từ tháng 7 năm 1571 tới năm 1575, dưới sự chỉ huy của Phụ Chính Khiêm vương Mạc Kính Điển, Hoàng Quận Công Mạc Đăng Lượng, Thạch Quận Công Nguyễn Quyện cùng các tướng nhà Mạc tiến đánh vùng Thanh Nghệ. Trong trận Lèn Hai Vai (Yên Thành), đánh thắng Lai quận công Phan Công Tích. Năm 1576,Nguyễn Quyện cùng Mạc Đăng Lượng đem quân trở ra Ngọc Sơn, Thanh Hóa đóng đồn từ Cầu Quán đến Mạo Lạp, lại cho quân mai phục hai bên đón đường. Đã bắt sống Tấn quận công Nguyễn Cảnh Hoan trên đường trở ra Yên Trường tại Bông Đồn, Độc Hiệu ngoại Thanh Hóa (Ninh Bình ngày nay).
Tháng 10, 1584, nhà Mạc tấn phong ông tước Minh Nghĩa đại vương sau tấn phong Phó Quốc Vương Triều Mạc. Cùng đợt cũng tấn phong Giáp Trưng tước Sách quốc công, Nguyễn Quyện tước Nam đạo Thường Quốc công, Mạc Ngọc Liễn tước Đà Quốc Công.
Năm 1591, ông dẫn hàng vạn quân chỉ một đêm đã đào xong sông gọi “Sông Nhà Mạc” và đắp nhiều thành lũy “Nhất dạ thành” ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình. Năm 1592, Thăng Long thất thủ, nhà Mạc thất thế, ông đổi tên thành Hoàng Đăng Quang, trước ở vùng Thạch Thành, Thanh Hóa sau về ở ẩn vùng Chân Lộc, Thanh Chương, Nam Đường. Tại đây ông sống ẩn dật, chiêu dân lập ấp, dạy học làm thuốc đến cuối đời. Năm Hoằng Định thứ 2 (1602) ông đến dâng hương chứng kiến việc di dời mộ Nguyễn Cảnh Hoan từ Rú Guộc Thanh Chương về Rú Cấm Tràng sơn, Đô Lương. Khi sống hai ông tuy ở hai chiến tuyến khác nhau nhưng rất trọng nghĩa khí của nhau. Ngày 16/6 âm lịch năm 1604, ông qua đời, hưởng thọ 108 tuổi. Sau khi mất mộ 2 ông, bà được song táng tại Rú cật thuộc dãy núi Đại Huệ. Duệ hiệu của ông là: Lê triều Tiến sỹ tước Quốc Công, Mạc Triều Hoàng đại tướng (Hoàng Quận Công) phó quốc vương, gia phong Thái quốc công, tặng Hiển công vương, gia tặng Minh nghĩa đại vương, thăng Tiên đô miếu (Đền Tiên Đô), thần quang linh ứng uy đức tôn thần, bao phong phu cách Hồng hiến, gia phong anh dũng thành hoàng thượng, thượng, thượng đẳng Thần. Gia phả ghi rõ: Mộ hai ông, bà được song táng tại xã Nam Lạc: Diện tiền Lam giang thuỷ, hậu bối Đại Huệ Sơn, tả hữu viễn cận sơn thuỷ, phân hướng tý ngọ, phân kim, Kim tinh chi cục. Hàng năm con cháu thuộc 5 chi đều đến tịnh mộ. Việc chăm sóc thường xuyên do chi họ Hoàng Văn ở Nam Lĩnh trông coi. Mộ 2 ông, bà được xây dưới chân núi Đại Huệ theo hình chữ nhật dài 4,25m và rộng 2,50m. Năm 1992 con cháu 5 chi họ Hoàng đã di chuyển mộ phần hai ông, bà (Mạc Đăng Lượng- Mai Thị Huệ) về hợp táng tại nghĩa trang họ Hoàng Trần ở Hòn Lửa, xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an. Phải nói rằng: Trong các Ông Tổ họ Mạc vào đất Nghệ Tĩnh thì chỉ có Mạc Đăng Lượng vào đất Thanh Nghệ Tĩnh không mang tính chất chạy loạn sau khi Nhà Mạc thất thủ Thăng Long năm 1592.
+ SẮC PHONG CỦA VUA DUY TÂN thứ 3/1909 ban chung cho Danh Tướng Hoàng Quận công tự Cát Giang Tử tức Mạc Đăng Lượng Thượng Đẳng thần; Hoàng Đăng Ích thượng Đẳng thần; Hoàng Bá Kì Dực bảo Trung hưng Linh phù Bản cảnh Hoàng công Bỉnh văn Dương vũ Anh linh chi thần.
敕旨乂安省梁山縣鄧林村從前奉事卓偉翊保中興本境名將
黃郡公上等神 ; 卓偉翊保中興
黃公果毅將軍平戎大將上等神翊保中興灵扶本境
黃公秉文揚武英灵之神節蒙頒給敕封準其奉事維新元年晋光大禮經頒寶詔覃恩禮隆登秩特準依舊奉事用誌國慶而申祀典欽哉
維新参年捌月拾壹日
Phiên âm
Sắc chỉ Nghệ An tỉnh Lương Sơn huyện Đặng Lâm thôn tòng tiền phụng sự Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Bản cảnh danh tướng Hoàng Quận công Thượng đẳng thần; Trác Vĩ Dực bảo Trung hưng Hoàng công Quả Nghị tướng quân Bình nhung Đại tướng Thượng đẳng thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Bản cảnh Hoàng công Bỉnh văn Dương vũ Anh linh chi thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kì phụng sự. Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.
Khâm tai!
Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.
Dịch nghĩa: Sắc chỉ ban cho dân làng thôn Đặng Lâm huyện Lương Sơn tỉnh Nghệ An từ trước đến nay vẫn thờ phụng các thần Trác Vĩ Dực bảo Trung hưng Bản cảnh danh tướng Hoàng Quận công Thượng đẳng thần; Trác Vĩ Dực bảo Trung hưng Hoàng công Quả Nghị tướng quân Bình nhung Đại tướng Thượng đẳng thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Bản cảnh Hoàng công Bỉnh văn Dương vũ Anh linh chi thần. Từng được các triều ban cấp sắc phong cho phép được thờ phụng. Năm Duy Tân nguyên niên (1907) nhà vua làm lễ lên ngôi, ban cho chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ long đăng trật. Cho phép dân làng được thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày đại lễ mở rộng việc thờ cúng.
Kính cẩn thay!
Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909).
+ SẮC PHONG CỦA VUA KHẢI ĐỊNH thứ 9/ 1924 cho Danh tướng Hoàng Quận công phu cách Hồng hiến Anh dũng Thành hoàng Thượng đẳng thần tức Mạc Đăng Lượng.
敕乂安省英山府鄧山社鄧林村從前奉事原贈卓偉翊保中興本境名將
黃郡公浮格洪献英勇城隍上等神護國庇民稔著灵應節蒙颁給敕封準許奉事肆今正值朕四旬大慶節經頒寶詔覃恩禮隆登秩特準依舊奉事用誌國慶而申祀典欽哉
啟定玖年柒月貳拾五日
Phiên âm
Sắc Nghệ An tỉnh Anh Sơn phủ Đặng Sơn xã Đặng Lâm thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng Trác Vĩ Dực bảo Trung hưng Bản cảnh danh tướng Hoàng Quận công phù cách Hồng hiến Anh dũng Thành hoàng Thượng đẳng thần. Hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.
Khâm tai!
Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa: Sắc ban cho dân làng thôn Đặng Lâm xã Đặng Sơn phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An từ trước đến nay vẫn thờ phụng thần nguyên được tặng là Trác Vĩ Dực bảo Trung hưng Bản cảnh danh tướng Hoàng Quận công phu cách Hồng hiến Anh dũng Thành hoàng Thượng đẳng thần. Cứu nước giúp dân, rất là linh ứng, được các triều đều ban cấp sắc phong cho phép được thờ phụng. Nay đúng dịp lễ mừng Trẫm hưởng thọ 40 tuổi, ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ nghi long trọng. Đặc chuẩn cho dân làng được thờ phụng để ghi nhớ ngày đại lễ mà mở rộng việc thờ cúng.
Kính cẩn thay!
Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924).
Thờ tự:
Tương truyền sau khi đánh thắng quân Thanh, trên đường trở về Quang Trung phong ông làm Thượng Đẳng thần.
Vua Lê Hiển Tông và Triều Nguyễn, các vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định có 9 sắc phong ông cùng (con trai Hoàng Bá Kì là Đoan túc tôn thần), em trai Mạc Đăng Tuấn và hậu duệ Hoàng Đăng Ích là Thành Hoàng thượng đẳng Phúc thần, được thờ phụng chung tại Đền Tiên Đô lễ khai hạ (lễ hội Đền Tiên đô) mồng 7 tháng giêng; Lễ lục ngoạt 16 tháng 6 cũng là ngày kỵ nhật của ông; Di tích Quốc gia nhà thờ họ Hoàng Trần xã Đặng Sơn;Từ Đường họ Hoàng trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá ở làng Lương sơn xã Bắc sơn; Từ Đường họ Hoàng Bá làng Khả phong xã Nam Sơn; Từ Đường họ Hoàng sỹ xã Yên Sơn; Từ Đường họ Hoàng văn xã Đà sơn thuộc huyện Đô Lương Nghệ an; Di tích Quốc gia Đền Tán Sơn xã Xuân Hòa và các chi họ Lê Đăng thuộc huyện Nam Đàn, Thanh Chương tỉnh Nghệ an.
Gia đình:
Cụ nội: Mạc Đăng Đạt đậu tiến sỹ đời Hồng Đức vợ là công chúa Ngọc Hoa.
Ông nội: Mạc Đăng Kiệt;
Bà nội: Đào thị Hàm.
Cha: Mạc Đăng Trắc: quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là Thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Mùa xuân năm Kỷ tỵ (1469) niên hiệu Quang thuận (1460-1469). Cụ bác, chú ruột Mạc Thái Tổ là Tạo sỹ (Tiến sỹ võ) Mạc Đăng Hùng Võ nghệ siêu quần, có tài đá cầu bị khép tội chết do đá cầu mua vui rơi vào chân Vua Lê Thánh Tông ngự xem trên thuyền rồng ở Sông Cầu. Gia đình họ hàng tránh đại họa phải chạy các nơi… Ông Mạc Đăng Thiệu cùng anh trai Mạc Đăng Thuật (tức Mạc Hịch- Mạc Bình) và Cụ nội Mạc Đăng Kiệt và Cụ tổ Mạc Đăng Trắc cùng gia đình anh em phải chạy lánh nạn xuống ở làng Cổ trai, Ngũ Đoan, Nghi Dương. Sinh tổ Mạc Đăng Lượng ở đây.
Mẹ: Đậu Thị Minh, làng Câu Tử Nội xã Hợp Thành huyện Thủy Nguyên (Thủy Đường), Hải Phòng là bậc cô của bà thứ phi Đậu thị Giang vợ Thái Tông Mạc Đăng Doanh sinh Mạc Cảnh Huống (1542-1677) con út, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam trở thành Khai quốc công thần Triều Nguyễn.
Vợ: Mai Thị Huệ. Dòng họ Mai Khoa bảng thôn Trung xã Đào Tai huyện Quế Dương, Kinh Bắc nay là thôn Trung xã Đào Viên, huyện Quế võ, tỉnh Bắc Ninh.
Các con: – Mạc Đăng Lưu đổi tên là Hoàng Đăng Lưu tự Pháp Lưu.(Hoàng trần Đặng sơn) – Mạc Đăng Đạo đổi tên là Hoàng Đăng Đạo tự Nhã Đạo. (Hoàng trần Bắc sơn) – Mạc Đăng Kì đổi tên là Hoàng Đăng Kì tự Bá Kì (Nam sơn). – Mạc Đăng Ngọc đổi tên là Hoàng Đăng Ngọc tự Kim Ngọc.(Hoàng sỹ Yên Sơn) – Mạc Đăng Thuật đổi tên là Hoàng Đăng Thuật tự Phúc Diện (Hoàng văn Đà sơn).
Em trai: Mạc Đăng Hào tức Mạc Đăng Tuấn năm 1535 cùng vào Trấn thủ đất Hoan Châu. Sau năm 1592 đổi tên Hoàng Tuấn Ngạn.
Duệ hiệu: Quốc tử Giám sinh. Lê triều đặc tiến kinh diên, Khâm tặng Minh Tề Đại Vương, anh dũng Thành Hoàng tự Đăng Tuấn Thượng Đẳng thần.
Tham khảo:
-Tam Tĩnh Đào, Thư viện Nghệ An. Khoa bảng Nghệ An, 1075-1919. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Thư viện Nghệ An, 2000. Trang 219.
– “Đền Tán Sơn và mộ đồng chí Lê Hồng Sơn”. Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Thể loại: Bài viết với chủ đề có độ nổi bật không rõ Sinh 1496 Mất 1604Tướng nhà Mạc.
– Hồ sơ khoa học Đình Phú nhuận và Nhà thờ họ Hoàng Trần, Di tích cấp quốc gia Bộ văn hóa cấp 05/9/1994.
– Gia phả bản chữ Hán họ Hoàng trần lập năm Thành Thái 10/1898 dịch ra Việt văn.
-Gia phả họ Bản chữ Hán Hoàng văn Đà Sơn
– Bản Đặng sơn Khoa Phả tựa. (1875-1927) .
– Hoàng trần Hòa đời thứ 12 của cụ Mạc Đăng Lượng tai Nghệ an Chép.
Hoàng Trần Hòa dẫn nguồn
Viết bình luận
Tin liên quan
-
MẠC KÍNH VŨ TRONG QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC THẾ KỶ XVII – MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI
-
Họ Mạc ở Nghệ An
-
Nhà Mạc và Thái Tổ Mạc Đăng Dung trong lịch sử dân tộc
-
Quảng Ninh trong thời nhà Mạc (thế kỷ XVI)
-
THANH LONG ĐAO BẢO VẬT QUỐC GIA.
-
TÂM TÌNH NGƯỜI HẢI DƯƠNG VỀ MỘT MIỀN QUÊ ĐỊA LINH NHÂN KIỆT !
-
LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
-
THÁI TỔ MẠC ĐĂNG DUNG
-
Mạc Đăng Dung đã cứu đất nước khỏi họa xâm lăng, đẩy lùi cuộc chiến tranh của nhà Minh năm 1540
-
MẠC ĐĨNH CHI HÌNH TƯỢNG ĐẶC SẮC VỀ MỘT TRẠNG NGUYÊN ĐẤT VIỆT
Mạc kỳ - Mạc ca
Fanpage Facebook
Bài viết xem nhiều nhất
- NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Nghệ An
- Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử
- ĐỊA CHỈ MỘT SỐ DI TÍCH NHÀ MẠC VÀ DANH THẮNG CƠ BẢN Ở TỈNH CAO BẰNG
- Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”
- CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC THỜI MẠC
- LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
- HẬU TÁI ĐỊA DANH CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Bắc Giang
