Thứ 2, 10/05/0/2010
Chào mừng các bạn đến với website Mạc Tộc Việt Nam
II. Các gương sáng thời kỳ từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1930
BBT vừa nhận được bài viết này từ ông Hoàng Trần Hòa, xin trân trọng giới thiệu.
Cụ Tảo sinh năm 1890 (Canh Dần) trong một gia đình khá giả. Cụ học chữ Nho từ nhỏ ở quê ngoại. Thầy dạy cụ là Cụ đồ Tốn (là cậu ruột của cụ Tảo ) ở làng Phù Đổng. Vốn thông minh, ham học nên cụ đỗ khoá sinh trong kỳ thi Hương đời vua Duy Tân năm Đinh Mùi (1907). Sau đó, cụ thi tiếp nhưng không đạt. Tại trường thi năm đó, cụ kết thân với Cụ Khoá Bình - người cùng đỗ khoá sinh.
Cụ tổ xuất thân trong dòng họ Thạch Văn – Phù Ninh lấy vợ thụoc dòng họ Nguyễn Công Đình rồi nhập cư luôn ở đó. Với tư chất thông minh lại siêng năng nên ngoài việc làm ruộng, Cụ đã học và làm nhiều nghề phụ khác nhất là chăn nuôi gia súc. Nhà cụ nuôi nhiều nhưng lại bị dịch thiệt hại lớn cho công sức và tiền của. Lợn và trâu bò khi lớn hay phá phách chuồng trại, tốn sức tốn của săn đuổi sửa chữa.
Cụ Hoàng Trần Vân tục gọi là Quyền Uỷ (lấy tên ghép con rể và con gái trưởng là Uỷ) sinh năm Quý Mùi (1883) tại làng Lương Sơn, tổng Đăng Sơn, phù Anh Sơn nay là xã bắc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Gốc họ Mạc, phái hệ Mạc Nhã Đạo, Đô chi huy sứ Kiêm Lộc Hầu, con trai thứ hai Phó Quốc vương Mạc Đăng Lượng
Nguyễn Công Cảo sinh ra trong một gia đình nho giáo có truyền thống yêu nước. Đi tu từ thủa nhỏ, sau đỗ hoà thượng lấy pháp danh là sư Nam Thượng (tên chữ đầu của hai thôn Nam Thọ và Thượng Đạt là quê hương của ông). Ông tu ở chùa Lộ Vị, tổng Cổ Quán, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng (nay là thôn Lộ Vị, xã Thăng Long, huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình).
Cụ là con trai thứ 3 của cụ tổ Thái Công Trì ở làng Ngọc Lâm, xã Đức Lâm huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc về Chi thứ 3, đời thứ 13. Thuỷ tổ họ Thái là Mạc Đăng Bình (thế tử của Mạc Tuyên Tông- Mạc Phúc Nguyên).
Đây là vùng đất cổ của xứ Ái châu thời bắc thuộc, nằm trong địa danh Đô Đặng từ thời Lý, Trần, rồi Anh Đô thời Hậu Lê. Đối ngạn phía Tây Bắc chừng 2 km là đến Quả Sơn, một danh thắng, thời Lý Nhật Quang, hoàng tử thứ 6 của Lý Thái Tổ. Hoàng tử là người có công giữ yên bờ cõi phía Tây- Tây Nam thời ấy.
Cụ Phạm Văn Khánh tức Mạc Văn Khánh và cụ bà Hoàng Thị Dam từ Bắc kỳ vào Nghệ An thời vua Lê Ý Tông, chúa Trịnh Giang. Phần mộ táng tại đồng Găng, phường Nghị Hoà, thị xã Cửa Lò, sinh hạ ra nhiều thế hệ cần cù làm ăn, hiếu học và giàu lòng nhân ái. Trong gia phả còn để lại đôi câu đối: “Cha trước, chú sau đều bá hộ- anh bình, em thứ lọt tam trường và thực tế, đời thứ 2 có bá hộ Phạm Văn Đán, bá hộ Phạm Văn Chinh, đời thứ 3 có bá hộ Phạm Văn Triều, sinh đồ bá hộ Phạm Văn Kiền- đời thứ 4 có bá bộ Phạm Văn Hào (bá Hào), bá bộ Phạm Văn còn gọi là cụ Bá Văn hay cụ Tú kép, sinh bá hộ Phạm Đức Thụ, Phạm Văn Nguyên- đời thứ 5 có bá hộ Phạm Mân (cụ bá Mân) bá hộ Phạm Đức Tân (còn gọi là cụ bà Thiều) cụ Phạm Đức Chiêu, sau khi mất cụ Chiêu được sắc phong hàm Chánh tứ phẩm.
Ở Đô Hoàng xã Phú Khê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định có một nhà nổi tiếng văn võ toàn tài, được nhân dân vẫn thường ca tụng. Đó là họ Hoàng vốn gốc họ Mạc Đăng, thuỷ tổ là cụ Phúc Sinh. Đến đời thứ 3 thì chia ra làm 3 chi. Chi nào cũng có người học hành đỗ đạt nổi tiếng văn chương và yêu nước. Đặc biệt nhất là nhiều đời nối tiếp nhau tạo thành một truyền thống rất đáng tự hào. Cụ thể như gia đình cụ Hoàng Văn Trung.
Cụ Hoàng Bá Tước (tục gọi cố Tổng Phong) gốc Mạc thuộc phái hệ phó Quốc Vương Mạc Đăng Lượng, là con trưởng cụ Hoàng Bá Đạm, quê ở làng Lương Sơn nằm ben hữu ngạn sông Lam, thuộc tổng Đặng Sơn xưa, nay là xã Bắc Sơn, huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An. Cụ sinh năm 1856 và mất ngày 15 tháng 11 năm Canh Thìn (1940), hưởng thọ 85 tuổi.
Hậu duệ nhà Mạc