Thứ 2, 10/05/0/2010
Chào mừng các bạn đến với website Mạc Tộc Việt Nam
Phần II - Khai khoa bảng
Ngài là con của cụ Mạc Bình (hay Mạc Đĩnh Quý) ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương. Lấy con gái cụ Đặng Xuân, người cùng làng tên là Đặng Thị Hiếu. Sinh hạ được 3 người con trai. Con trưởng là Đăng Dung, con thứ là Đốc, con thứ ba là Quyết.
Ngài là con của cụ Mạc Tung. Lại di cư đến làng Cổ Trai huyện Nghi Dương. Cũng như bố, chỉ ẩn náu nơi thôn dã, không ra làm quan.
Ngài là con của cụ Mạc Thúy. Sống vào thời hậu Trần (1407-1413). Di cư đến làng Lan Khê, huyện Bằng Hà, châu Nam Sách lộ Lạng Giang (nay là Thanh Hà, tỉnh Hải Dương). Khi ấy Lê Lợi đã bình định xong giặc Minh xâm lược, nghiêm trị bọn ngụy quan, cho nên Ngài không dám ra làm quan, chỉ ẩn náu nơi thôn dã.
Ngài là con thứ của cụ Mạc Dao. Anh trai của Ngài là cụ Mạc Địch, có tài năng và sức lực nhưng vì bất đắc chí muốn chống lại nhà Hồ và mắc sai lầm đưa đường cho nhà Minh sang đánh nhà Hồ. Người Minh phong cho cụ chức chỉ huy sứ.
Làm quan tư hình viện đại phu. Sau này cháu xa 6 đời là Mạc Thái Tổ khi lên ngôi Hoàng đế có truy tôn ông tổ 6 đời này làm Hoằng cơ đốc thiện tuyên hưu hoàng đế. Ngài sinh hạ bốn con trai, đặt tên là Mạc Địch (có sách chép là Biên), Mạc Thoan, Mạc Thúy, Mạc Viễn. Người con nào cũng có tài năng sức lực. Song bất đắc chí vì ở cuối đời Hồ.
gài là người ở xã Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ khoa Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ hai (1086) đời nhà Lý (Nhân Tông). Ngài được bổ làm Hàn lâm Viện học sĩ, sau làm đến chức Thượng thư bộ Lại. Đi sứ Chiêm Thành năm 1094.
Hậu duệ nhà Mạc