- Đang online: 3
- Hôm qua: 746
- Tuần nay: 15772
- Tổng truy cập: 3,928,728
MẠC ĐĨNH CHI – VỊ TRẠNG NGUYÊN LÀM RẠNG DANH ĐẤT NƯỚC
- 28 lượt xem
PSG.TS. Trần Đức Cường
Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi sinh ngày mùng 6 tháng 7 năm Nhâm Thân (1280), niên hiệu Bảo Phù triều vua Trần Thánh Tôn (1272), tên chữ là Tiết Phu, vốn là người Lan Khê, huyện Bình Hà, châu Nam Sách, Lộ Lạng Giang, sau đó dời đến làng Lũng Động, Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Với tư chất thông minh, ham học nên năm lên 6 tuổi, Mạc Đĩnh Chi xin mẹ đi học. Thấy con ít tuổi mà có chí, bà mừng rỡ sắm sửa cho đi. Bấy giờ có Chiêu Quốc công Thái tử nhà Trần mở trường dạy học ở làng bên cạnh. Gia đình Mạc Đĩnh Chi gửi con trai mình vào học trường của Chiêu Quốc công. Thấy rõ vai trò của kiến thức trong cuộc sống, Mạc Đĩnh Chi chăm lo rèn mài kinh sử. Không bao lâu, Mạc Đĩnh Chi học được xác định là người học giỏi nhất trường, nghe một biết mười, học đâu nhớ đấy, cả vùng đều cho là thần đồng, Mạc Đĩnh Chi được Chiêu Quốc công nhận là môn đồ, chu cấp cho ăn học thành tài.
Năm Giáp Thìn niên hiệu thứ hai đời nhà Trần (1293) Mạc Đĩnh Chi thi đậu Hội nguyên. Khi vào Đình đối, vua thấy ông tướng mạo xấu xí không muốn cho đậu Trạng nguyên. Mạc Đĩnh Chi biết ý, nhận đầu bài “Ngọc tỉnh liên”, ông bèn làm bài phú tự ví mình như một cây sen trong giếng ngọc. Lời thơ được dịch ra như sau: “chẳng phải như đào trần lý tục; Chẳng phải như trúc cỗi, mai gầy. Câu kỷ phong tăng khó sánh; Mẫu đơn đất lạc nào tày. Giậu Đào Lệnh cúc sao ví được; Vườn lính Quân lan khó sánh thay! Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây”. Vua Anh Tông xem xong, khen là tài năng trác việt mới cho đậu trạng nguyên, ban cờ biển vinh quy, năm ấy ông vừa đúng 20 tuổi. Với tài ứng đối, khi yết kiến nhà vua, vua Anh Tông rất đẹp lòng ban chức Hàn lâm đại học sĩ.
Năm 1308, Mạc Đĩnh Chi vâng lệnh triều đình đi sứ sang nhà Nguyên và đã không hổ danh là một tân trạng nguyên của Đại Việt với khí phách kiên cường, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc; đối đáp giỏi, được nhà Nguyên nể phục. Tại đây, Mạc Đĩnh Chi đã tiếp sứ Cao Ly đang ở Trung Quốc và ở nước Cao Ly, thăm nhà cũ của đào Tiềm và làm một số bài thơ: Phiến minh, Tảo hành, Văn cảnh, Văn tế công chúa…
Là vị quan thanh liêm, chính trực, dưới triều vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi được thăng chức Nhập Nội Hành khiển. Về sau, ông được thăng đến Đại Liên ban Tả Bộc xạ, tương đương chức Tể tướng.
Năm Đại Khánh triều vua Trần Minh Tông (1314-1323), Vua nhà Nguyên sai sứ sang phong Vương cho nhà vua. Sau đó Mạc Đĩnh Chi được triều đình cử làm chánh sứ sang nhà Nguyên đáp lễ.
Tại Yên Kinh (Trung Quốc) với tài ứng đối thông minh, sắc sảo ông được các quan lại nhà Nguyên phục tài. Vua Nguyên hết sức ngợi khen cho là bậc kỳ tài, lúc về ban thưởng rất hậu nhưng ông nhất mực từ chối không nhận một thứ gì, có điều đáng ghi nhận là khi chầu vua Nguyên, khi ông làm bài minh dâng lên, ông được vua Nguyên hết lời khen ngợi và viết bên lề bài minh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Có lẽ chính vì vậy mà trong tâm thức dân gian, ông được phong tặng danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.
Tương truyền, Mạc Đĩnh Chi là người có tài ứng đối bằng văn chương. Trong thời gian đi sứ sang Yên Kinh, Thủ đô của triều Nguyên lúc ấy, một lần, vua Nguyên ra câu đối để thử tài Mạc Đĩnh Chi là: “Nhật hỏa,vân yên, bạch đản thiêu tàn ngọc thố”, nghĩa là “Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy mặt trăng- Ngụ ý: Nhà Nguyên là cường quốc, luôn dễ dàng tiêu diệt các nước nhỏ như Đại Việt”.
Với lòng tự tôn dân tộc, Mạc Đĩnh Chi ứng đối là:
“Nguyệt cung tinh đan, hoàng hôn xạ lạc kim ô”. Nghĩa là: “Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng Mặt trời” ý nói đất nước nhỏ cũng có thể đánh bại nước lớn. Vua Nguyên nghe xong tức lắm, nhưng phải khen ngợi tài ứng đối của vị trạng nguyên Đại Việt.
Mạc Đĩnh Chi làm quan và hoạt động dưới 3 triều vua nhà Trần, vua Trần Anh Tông (1293-1314, vua Trần Minh Tông (1314-1329), vua Trần Hiến Tông (1329-1341), được tiếng là thanh niên, chính trực, yêu nước, thương dân.
Khoảng năm Khai Hựu thứ mười triều vua Hiến Tông (1339), Mạc Đĩnh Chi dâng sớ xin về hưu. Vua nghĩ ông là bậc quan thanh liêm, bậc sứ thần mẫn tiệp, bậc quốc lão nguyên huân, sống giản dị, lạc quan, mang hết tâm lực và trách nhiệm của mình để phục vụ đất nước, lại là thầy học nên không muốn xa, nhưng Mạc Đĩnh Chi cố xin. Vua Hiến Tông phải chuẩn tấu, tặng phong hầu tước và ban thưởng rất nhiều đồng thời sai sứ tiễn ông về đến tận làng, các quan văn võ trong triều đều đến đưa tiễn, ai cũng tỏ ra ái mộ.
Năm Nhâm Ngọ (1342) Mạc Đĩnh Chi về làng dựng am ở dưới núi Phượng Hoàng huyện Chí Linh, ngày ngày uống rượu ngâm thơ. Thơ của ông truyền lại rất nhiều, nay chỉ còn ít bài chép trong bộ “Hoàng Việt văn tuyển”. Năm Thiệu Phong thứ 6 (1346) Mạc Đĩnh Chi lâm bệnh và qua đời ngày 10 tháng 02 năm Bính Tuất.
Vua Dụ Tông (1341-1369) hay tin Mạc Đĩnh Chi tạ thế vô cùng thương tiếc, sai các quan về dự tế, phong ông làm Phúc Thần, cấp 500 quan tiền cho dân sở tại dựng đền thờ, tục gọi đền Quan Trạng và sắc phong ông làm Thành Hoàng.
Sau này, khi Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) lên ngôi hoàng đế có truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế.
Đền thờ Mạc Đĩnh Chi hiện nay tại thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (trước đây). Năm 1992, đền thờ ông được Nhà nước ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Hàng năm vào ngày 10 tháng 2 âm lịch các chi tộc họ Mạc từ mọi miền đất nước trở về thôn Long Động thăm đất cũ, bái yết tổ tiên và dự hội với nhân dân địa phương để tưởng nhớ đến vị Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi không chỉ là công trình văn hóa có ý nghĩa lịch sử và văn hóa tâm linh còn là nơi giáo dục truyền thống hiếu học truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.
Viết bình luận
Tin liên quan
-
Vì sao bao đời nay dân một làng ở Phú Thọ gọi tòa thành cổ này là “Thành nhà Mạc”?
-
Quần thể Di tích chùa Đà Quận – Nơi lưu giữ Bảo vật Quốc gia
-
Việt Nam sẽ có thêm một Di tích quốc gia đặc biệt: Lưu giữ thanh đao từng theo Thái tổ Mạc Đăng Dung chinh chiến, là kinh đô thứ hai của nhà Mạc
-
LƯỢC SỬ MẠC KÍNH ĐIỂN
-
Ngôi đền cổ thờ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên ở Hải Dương
-
Trạng nguyên Việt Nam nào đã đánh bại thần cờ của Trung Hoa?
-
Dấu tích kinh đô hướng biển của nhà Mạc
-
Di tích đặc biệt ghi dấu ấn Vương triều Mạc tại Hải Phòng
-
Ông vua nhà Mạc lên ngôi mùng 1 Tết
-
10 SỰ KIỆN TIÊU BIỂU TRONG HOẠT ĐỘNG DÒNG HỌ NĂM 2023 CỦA HỘI ĐỒNG MẠC TỘC HẢI PHÒNG
- NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Nghệ An
- Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử
- ĐỊA CHỈ MỘT SỐ DI TÍCH NHÀ MẠC VÀ DANH THẮNG CƠ BẢN Ở TỈNH CAO BẰNG
- Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”
- CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC THỜI MẠC
- LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Bắc Giang
- HẬU TÁI ĐỊA DANH CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC
