- Đang online: 1
- Hôm qua: 1634
- Tuần nay: 19805
- Tổng truy cập: 3,823,909
CỔ TRAI XUÂT ĐẾ (Tiếp theo)
- 399 lượt xem
Chương 8:
Đoan quận công chiếm giữ Hoành Sơn
Mạc Khiêm vương thu hồi Nguyễn Quyện
Nhận được sắc khen cảu vua Lê, Phụng quốc công cùng thông gia Thư quận công lập tức dẫn quân ra đi. Quân đông tới vạn rưỡi người. Lúc qua vùng Sơn Nam, Thư quận công không khỏi bùi ngùi. Quê hương yêu dấu ở lại đằng sau biết bao giờ gặp lại. Nhà Mạc đã làm cho gia đình mình vinh hiển, chưa hề bạc đãi mà làm cái việc bội bạc này thì dân làng, bạn bè sẽ nghĩ sao về mình. Miệng lưỡi thế gian sẽ nói gì về một ông trạng mà phản chủ mình. Thư quận công chờ hai con đến gần bảo nhỏ:
– Việc ra đi hôm nay là bất đắc dĩ, chẳng qua là do nhà ta có mối quan hệ thông gia với Phụng quốc công mà thôi. Sau này nhà vua chuyển ý cho gọi thì các con phải tìm cách trở về chuộc lỗi cho cha đấy.
Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn đều khẽ gật đầu.
– Khi xưa dường như Trình Công đã biết nhà ta có ngày hôm nau nên đã dặn đi dặn lại làm kẻ sĩ trong thời loạn cốt nhất phải giữ cho được lòng trung, may ra để lại chút danh giá cho hậu thế, vậy mà cha không làm được, thật là hổ danh quá. Cha có thể ở lại chịu chết giữ tiếng nhưng còn hai con, còn các cháu, cha không thể tự diệt cả gia đình được.
Ba cha con Quận Thư cùng rớm nước mắt.
Tới hành điện vua Lê ở sách Vạn Lại, Phụng quốc công cho quân nghỉ ở ngoài, còn mình dẫn hai con và gia đình Quận Thư vào bái kiến. Vua Lê mừng lắm, cho mọi người giữ nguyên chức tước. Phụng quốc công lại đến chào Trịnh Thái sư. Lúc này Bá Ly đã 77 tuổi, danh tiếng oai trùm thiên hạ, nhưng là phận hàng thần nên rất cung kính theo lễ kẻ dưới. Trịnh Thái sư cũng kính cẩn đáp lễ.
– Chúc mừng đại lão quay về với đại lễ, làm sáng lại danh tiếng anh hùng.
– Vâng, cám ơn Thái sư thương tới mà không rẻ rúng kẻ lầm đường lạc lối.
– Không biết Thái tể có kế gì lập công giúp triều đình lúc này không?
– Thưa thái sư, tôi có đem theo bức địa đồ bố trí quân đội nhà Mạc để thái sư dùng. Nếu được Hoàng thượng và Thái sư thu nhận, tôi sẽ gọi được tướng Tây đạo ở Sơn Nam thượng và Tổng trấn Tuyên Quang theo về. Bấy giờ nhà Mạc chỉ dựa vào cha con Tây quốc công. Việc thu phục giang sơn sẽ trở nên dễ dàng.
– Hay lắm, Thái tể đúng là trụ cột của nhà nước, tôi sẽ xin Hoàng thượng hạ chỉ ngay.
ﮪ
Sau khi bắt được Nguyễn Uông, Dực quận công phủ dụ quân tước đi theo.
– Bắt Nguyễn Uông là chuyện riêng của nhà ta, tướng sĩ đi theo là theo lệnh chủ, làm đúng chức phận không ai có tội, không phải sợ gì cả. Mọi người trên hết là quân nghĩa trung, phò giúp Hoàng thượng, vì vậy hãy theo ta gắng sức lập công.
– Xin theo lệnh Chúa công.
Trịnh Kiểm thống lĩnh quân Nguyễn Uông điều tra bố trí chờ đón quân Mạc đang đến gần.
Vua Mạc nhận được tin báo của Trung Hậu hầu đã hại được Thái sư Nguyễn Kim, nội tình quân Lê đang rối loạn liền sai Thái tể Ninh quốc công xuất quân ngũ phủ tứ trấn hơn 4 vạn người đi đánh, quyết một trận bắt sống vua Lê. Quân mã kéo đi như nước chảy, tinh kỳ rợp đất, binh khí sáng léo. Đến bến Phù Chẩn, Thái tể cho hạ trại nghỉ ngơi, hẹn hôm sau sẽ vượt sông Bô Cô. Tham quân Trần Phỉ bàn:
– Dùng binh cốt ở thần tốc, sao không nhân lúc quân địch còn đang loạn mà cử một đạo tiên phong vượt sông đánh trước đi.
Thái tể cười chê:
– Ông đúng là quan văn, được cử làm tham quân chỉ tổ làm vướng chân ta. Ông xem, nước chảy to thế này tưởng vượt sông dễ lắm hả. Quân ta hành quân mấy ngày và đang mệt mỏi, muốn đánh phải có sức khỏe chứ. Có binh pháp nào dạy dĩ lao đãi dật không?
– Nếu Thái tể chưa muốn đánh thì hạ trại cũng nên theo thế trận chứ. Đằng này hạ trại la liệt ở bờ sông thế kia nếu quân địch sang đánh thì đối phó sao được.
Thái tể cười to:
– Nước sông to ta khó vượt thì địch cũng khó vượt sông, sợ gì. Ta ở đây cho gọn để mai vượt sông cho nhanh chả tiện hơn ư?
Thượng thư Trần Phỉ vớt vát:
– Thì tôi nghe Hán đế Lưu Bị quân đông, chỉ vì đóng sai binh pháp đến nỗi bị Đông Ngô đốt trại chém tướng tanh bành nên nhắc nhở đó thôi.
– Đúng là lo bò trắng răng. Thôi, mời ông đi rửa ráy rồi uống rượu vịnh thơ Tam quân thôn Ngưu Đẩu dâng Hoàng thượng cho tôi nhờ.
Thượng thư Trần Phỉ xấu hổ lui ra.
Trước đây Trần Phỉ đã được Mạc đế cho kiêm chức Tổng trấn Hưng Hóa để tuyển quân sẵn sàng đánh lại quân Minh do Cừu Loan chỉ huy đang áp sát biên giới, nhưng thực tế chưa từng cầm quân đánh trận, nên bây giờ có nói cũng chỉ là nói suông. Còn Thái tể, là người dày dạn đánh trận, nay lại đương chức thống lĩnh ba quân và trực tiếp cầm quân đánh trận lời noislafm gì chả có sức nặng hơn nhiều lần. Trần Phỉ về trướng uống rượu hật, mặc Thái tể điều binh khiển tướng,nếu thắng thì có phần, mà thua thì Thái tể phải chịu. Mà thua trận sao được khi toàn quân tụ về, còn quân Lê đã ít lại đang rối loạn vì mất kẻ đứng đầu và đang xảy ra nội loạn. Rượu ngấm, Trần Phỉ cao hứng ngâm vịnh bài “ Bạch Đế thành hận ca”.
Huyền Đức hết quân tới Bạch Thành
Phu nhân nghe nạn vội quyên sinh
Bên sông nay vẫn còn bia tạc
Chói lọi ngàn thu tiếng gái trinh.
Đang ngâm nga sau sưa thì Trần Phỉ nghe thấy tiếng kêu rú, tiếng binh khí va chạm nhau chan chát thì phàn nàn:
– Lính tráng lại rỗi hơi đánh nhau ư? Sao không nghỉ cho khỏe để sáng mai sang sông thì tha hồ mà đánh giặc lập công.
Vừa lúc đó có viên tùy tướng hớt hải chạy vào. Trần Phỉ xua xua tay:
– Ra bảo lính tráng im đi, đừng để ta mất hứng.
– Thượng quan, chạy mau, quân địch đến rồi.
Trần Phỉ vội vàng xô đổ bàn rượu chạy theo viên tùy tướng, mặc ba quân cũng đang chạy nháo nhào phía sau.
Nguyên Dực quận công thấy quân Mạc kéo ngút ngàn sợ địch không nổi đã cho vua Lê lui về phía sau. Trong khi đi thị sát trận địa và động viên quân sĩ thì thấy quân Mạc hạ trại nấu cơm không có ý vượt sông ngay. Trại thì hạ không theo đội hình gì, sợ có mưu kế gì chăng, nhưng khi quan sát kỹ thấy quân Mạc chỉ chắm nấu ăn bình thường thì nảy ra ý tiến công bất ngờ. Quân đông mà quân hồi vô phèng thì đông cũng vô dụng. Tướng dùng binh mà cậy đông kinh địch tất thảm bại. Dực quận công cho gọi các tướng đến dặn:
– Quân địch cậy đông hạ trại không phòng bị, nếu ta không đánh ngay để địch ăn xong có sức đánh ta thì không thể chống được, các tướng hãy cố gắng.
Đoạn cho điệu Nguyễn Uông ra chém thị uy. Các tướng đều quỳ lạy tha chết kẻo mang tiếng với chủ tướng vừa bị hại. Nguyễn Uông hiên ngang đáp:
– Các tướng không phải van xin kẻ bội bạc gian hiểm ấy. Ta dù có chết cũng đủ nhuộm hắn xấu xa muôn đời.
Trịnh Kiểm giận mắng:
– Ta thực bụng muốn ngươi hối cải, xóa bỏ hiềm nghi tư thù vô lý để cho làm tiên phong diệt địch, nhưng ngươi u mê khongchiuj suy xét, cứ tưởng thế là anh hùng, là tận hiếu, thực ra là bất nghĩa với anh rể, bất trung với vua, cuối cùng chính mình bất hiếu với sự nghiệp của cha mình mà có biết đâu.
– Đừng xảo ngôn ngụy biện nữa. Ta thừa biết bụng ngươi muốn nhổ cỏ tận gộc rồi.
– Vậy ta cho ngươi được chết xem người có nhuộm bẩn được ta không.
Đoạn sai võ sĩ đem chém. Ai nấy đều đau xót, thương cảm.
Trịnh Kiểm cho quân vượt sông ở phía thượng nguồn vừa bảo đảm bí mật, vừa lựa được dòng chảy để sang sông đã gần nơi quân Mạc hạ trại. Trịnh Kiểm thân làm tiên phong thúc quân dũng mãnh đánh vào trại quân Mạc. Quân Mạc không ngờ quân như từ tren trời rơi xuống chỉ còn biết tìm đường chạy tháo thân. Thái tể Ninh quốc công cũng chẳng thể diều quân cản địch. Vội lên ngựa chạy trước. Quân Mạc bị chết vô kể. Quân Lê đuổi vài dặm, chém giết mỏi tay mới dừng lại. Trịnh Kiểm thu quân, đứng trên chiến địa nói:
– Thực là Thái sư sống khôn chết thiêng phù hộ giúp ta đại thắng trận này. Ta tin chẳng mấy chốc sẽ chiếm được kinh thành thôi, các tướng sĩ hãy gắng sức thêm đấy.
Tất cả phấn khởi đáp:
– Chúng tôi nguyện theo lệnh Đại tướng quân!
ﮪ
Trịnh Kiểm dẫn quân về chầu vua ở sách Vạn Lại báo tin thắng trận. Vua Lê phong thưởng ngay Trịnh Kiểm làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, tước Lương quốc công, được độc quyền nắm giữ việc binh và tổng tài chính sự, trị dân dạy người, tuyên bố uy đức. Sau đó Trịnh Kiểm cùng các tướng mặc tang phục đến phủ Thái sư chịu tang. Không thấy Nguyễn Hoàng đứng chịu tang, Trịnh Kiểm cảnh giác hỏi Ngọc Bảo:
– Cậu Hoàng không về chịu tang hả?
Ngọc Bảo nghe chồng hỏi thì sụt sùi khóc, kéo chồng vào nhà, rồi quỳ lạy:
– Xin chàng đừng hại cậu ấy, nể tình cha nghĩa vợ chồng mà giữ cho nhà thiếp có người hương hỏa về sau.
Trịnh Kiểm đỡ Ngọc Bảo dậy ôn tồn:
– Nàng nói gì lạ thế? Cha chết vì kẻ gian hạ độc rồi thừa cơ cất mấy vạn quân đến đánh. Cậu Uông chết vì cố tình nghi oan dòn hại ha, không chịu ra đánh địch, thực là phạm quân lệnh chứ phải ta giết bừa, giết ẩu. Còn cậu Hoàng là người chính chắn, biết phân biệt trắng đen, phải trái, biết vì nghĩa lớn chắc không tìm hại ta đấy chứ? Sao không đến chịu tang là thế nào?
– Chàng ơi, cậu Hoàng sợ chàng sát hại nên vẫn chúi ở phủ nhà ta đợi chàng về xin tha tội đó.
Trịnh Kiểm thề thốt:
– Nếu ta có bụng dạ phản chủ, tơ thù thì trời tru đất triệt cả nhà ta đó. Vậy nàng hãy cùng ta về phủ khuyên giải cậu ấy đi.
Nguyễn Hoàng thấy chị dẫn anh rể về vội quỳ giữa nhà khóc lóc:
– Xin anh tha mạng cho em, em nhớ ơn anh lắm, em thề không làm gì hại anh đâu.
Trịnh Kiểm thương cảm ứa nước mắt đỡ Nguyễn Hoàng dậy:
– Anh tin cậu là người hiểu biết, chín chắn mà. Cậu tin anh đi, anh không bao giờ làm hại người nhà, kể cả quân lính của mình đâu. Lúc nãy anh đã nói với chị rồi, cậu Uông cố chấp, cố tình phạm quân pháp, không chịu cầm quân đánh giặc, chỉ lo sát hại chủ tướng, đó là quân pháp trị tội đó chứ. Cha là chủ tướng, sống khôn chết thiêng, đã phù hộ cho quân ta lấy ít thắng kẻ kẻ địch mạnh, công ơn của cha đối với anh, với xã tắc trọng như núi, anh trả ơn chưa hết mà. Thôi, anh em ta cùng ra lo tang cha đi.
Trịnh Kiểm dìu Nguyễn Hoàng đi. Các tướng sĩ đều cảm động ứa nước mắt.
Sau khi lo tang cho Hưng quốc công chu toàn, vua Lê thương tiếc cho cả nước để tang một tuần, phong cho Nguyễn Hoàng tước Đoan quận công, phụ trách việc đốc thúc lương thảo, có ý giữ gìn con cháu công thần phục quốc số một về sau.
Nguyễn Hoàng nhận chức tuy hiểu thâm ý của vua là cho hoạt động ở hậu phương vừa tránh được sự nghi kỵ của Tiết chế Trịnh Kiểm nhưng vẫn muốn thăm dò thực trạng của anh rể nên tìm gặp Ngọc Bảo kêu ca:
– Xin chị nói với anh cho em được ra trận lập công, chứ việc tải lương thì ai biết đến. Ngọc Bảo thuật lại cho chồng nghe và nói thêm:
– Hay chàng vẫn nghi ngờ, sợ cậu ấy có quân thì làm phản.
Trịnh Kiểm cười:
– Nàng là chị gái mà không biết bụng em mình. Để ta gặp cấu ấy thì nàng sẽ rõ.
Ngọc Bảo cho người đi mời Nguyễn Hoàng đến
Trịnh Kiểm nói:
– Anh đã nghe chị cậu trình bày rồi. Cậu vẫn tưởng anh nghi ngờ, không cho cầm quân chứ gì. Đó là anh và Hoàng thượng thực lòng không để cậu phải hiểm nguy trên chiến trường mà thôi. Người xưa đã nói: nghi ngờ thì không dùng, đã dùng thì không nghi ngờ, cậu làm gì chả biết điều đó. Mà cậu đừng tưởng việc tải lương là hèn kém việc đánh trận đấy. Khi xưa cụ tổ Hoành quốc cũng chỉ tải lương mà được đức Cao tổ vẫn coi là công thần khai quốc số một đó thôi. Ở các trận đánh lớn, bên yếu nếu chiếm được lương thảo thì đối phương không đánh cũng thắng. Cậu yên tâm mà làm việc đừng phụ sự tín nhiệm trông cậy của Hoàng thượng. Nguyễn Hoàng nghe xong bật khóc đáp:
– Em thực có lỗi vẫn chưa hiểu hết lòng yêu quý của anh,en xin hứa sẽ cố gắng.
ﮪ
Sau khi đem tướng sĩ quy thuận, được vua Lê tin dùng, Thái tể Lê Bá Ly muốn lập công báo đáp hiến kế:
– Tâu hoàng thượng, hiện nay quân Mạc đang hoang mang lo sợ, thần xin được công bố quốc thư gửi cho quân dân các trấn theo về chính đạo, rồi Tiết chế cử binh ba mặt vây đánh chỉ một trận là có thể toàn thắng, nếu chần chừ quân Mạc củng cố lực lượng, sắp đặt trân tuyến thì khó mà đánh được.
Vua Lê hội ý Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm nghĩ đây là cơ hội tốt để thử lòng của các hàng tướng và cũng là cách để họ đoạn tuyệt hoàn toàn vỡi chủ cũ, nên nói:
– Nhà Mạc tuy mất một ít quân tướng nhưng đất đai rộng lớn, thế lực còn mạnh, các ông bảo một trận là toàn thắng liệu có quá lời chắng? Hay các ông muốn toàn quân tiến ra chỗ trống cho quân Mạc tiêu diệt đây?
Thái tể sợ quá đáp:
– Chúng thần thực bụng muốn lập công, cũng là không muốn để lỡ cơ hội tốt lúc này mà thôi. Quân tình nhà Mạc thế nào chúng thần đều hiểu rõ cả mà.
Trịnh Kiểm lại hỏi:
– Vậy theo Thái tể nên điều quân ba mặt thế nào?
– Sơn Nam, Sơn Tây hai trấn bỏ ngỏ, tôi và Thái úy xin dẫn quân bản bộ đoạt lại. Phía Tây Bắc có Gia quốc công Vũ Văn Mật dẫn quân về. Nếu Kinh Bắc hưởng ứng thì quân Mạc chỉ còn Dương Kinh, An Bang thì khác nào cá chậu chim lồng như Tứ Dương hầu Tử Nghi ngày trước. Một Kính Điển dù có dũng lược cũng không thể ba đầu sáu tay ứng phó nổi.
– Các tướng khác có kế gì không?
– Xin tuân theo tướng lệnh của Tiết chế.
– Vậy ta cử Thái tể dẫn theo Khắc Thuận, Khắc Đôn đánh Sơn Nam, Thái úy dẫn theo Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn đánh Sơn Tây. Phát hịch gọi Gia quốc công theo ngày giờ hội quân về kinh thành. Ta sẽ dẫn chính doanh tiến giữa hai đạo Sơn Nam và Sơn Tây.
Trước khi ra quân, vua sai Thái tể công bố quốc thư gửi các trấn. Nội dung như sau:
“ Từng nghe nói: Dứt loạn có trị, xét cổ kim biết thực phế hưng, trở nguy làm yên, hay thời thế bởi trang tuấn kiệt. Thương vay tộ Mạc mau dời, đến vận lành thực hệ ở trời, mừng thấy Chúa Lê lại dấy. Được thời được chúa, được tôi. Có đất, có người, có của. Cõi Hoan châu, cõi Ô Lý trông đức giáo thuyền bể lội thông. Trấn Thuận Hóa, trấn Tuyên Quang mang bạch Ngọc thê non sum họp. Binh ứng viện đã dẹp tan Ninh Sóc, thư quy phụ rày nhặt lấy Lạng Sơn. Quan huyện đòi chôn hết trừ, thủy bộ hẹn ngày thắng tới. Ngựa làm cỏ, voi làm trận, sáu cơ đua khí mãnh hăm hăm; bầu đem nước, giỏ đem cơm, muôn họ dốc lòng về số số. Quan nghi cũ người đều mừng thấy, anh hùng nhiều ai chẳng phục đòi. Đây đã biết thuở hướng minh, đấy khá toan bề quy phục. Oai sấm dậy bởi trời, binh khỏe nỡ bi ai địch, ngọn lửa lan khắp núi, thế cháy âu ngọc thạch đâu phân. Nhớ nghĩa xưa cũng muỗn về lành, ngỏ lòng thực xá tin nhắc bảo”.
Ba cánh quân nhà Lê ra quân chính danh khí thế ngùn ngụt. Các hàng tướng đều cố sức tiến đánh. Quân Mạc chủ động rút lui về bờ Bắc sông Hồng lập phòng tuyến chống giữ. Từ Bồ Đề trở về phía Bắc đắp lũy đất, đặt thuyền chiến, xen kẽ thủy bộ, tuần tra nghiêm ngặt. Vua Mạc lui về Đăng Long điện ở Kim Thành. Khiêm vương ở tại hành dinh Bồ Đề chỉ huy phòng ngự.
Bọn Thái tể, Thái úy xin đón vua Lê về kinh thành khôi phục quốc thống cho quan dân cả nước vui mừng, quân Mạc không đánh cũng phải tan. Vua Lê phấn khởi lắm, sai người mời Tiết chế đến tính việc khôi phục kinh đô. Tiết chế can:
– Hiện nay quân Mạc chưa bị thiệt hại gì, đang tập trung cả ở bên bờ Bắc. Nay bệ hạ về kinh, nếu bọn hàng tướng có bụng dạ khác trong ứng ngoài hợp thì nguy mất. Đấy là chưa kể nhân tâm đâu đã hoàn toàn bỏ Mạc. Chi bằng cứ tạm giữ nơi căn bản, thu phục lòng người chờ cơ hội đánh lấy kinh thành sau. Thần dự đoán, quân Mạc cho rằng ta dốc toàn lực đoạt nước, tất sẽ cho quân chiếm Thanh Hoa, đất căn bản của ta, rồi trước sau phối hợp tiêu diệt quân ta. Xin bệ hạ hãy cho thu các cánh quân về dần khi còn chưa muộn.
Vua Lê nghe Tiết chế nói thì giật mình:
– Trẫm thấy quân ta lần đầu ra quân lớn đã đại thắng suýt nữa thì lạc quan tếu, may mà còn có khanh tính toán như thần nhắc bảo. Vậy khanh cứ tự quyết định thôi.
Tiết chế Trịnh Kiểm hạ lệnh thu quân, các tướng đều lấy làm ngạc nhiên nhưng không dám trái lệnh, từ từ rút quân về. Riêng Gia quốc công lại dẫn quân bản bộ về giữ Tuyên Quang.
Đúng như dự đoán của Trịnh Kiểm, quân Mạc do Khánh quốc công đi đường thủy đánh chiếm Nam Công án ngữ đường về của quân Lê. Trịnh Kiểm thúc quân tiến đánh. Quân Mạc thấy quân Lê có phòng bị lui về giữ cửa Thần Phù và Yên Mô. Còn Kính Điển ở bờ Bắc thấy quân Lê rút cũng không dám truy đuổi vì sợ có mai phục, chỉ điều quân thận trọng chiếm lại các cứ Sơn Nam, Sơn Tây sau khi quân Lê đã rút đi.
Cuộc tiến công Bắc tiến quy mô lớn lần đầu của quân Lê đã đạt được mục đích chiếm được kinh thành, thử thách lòng trung của các hàng tướng, nhưng hai bên chưa có thiệt hại gì đáng kể.
Sau khi hội quân về Thanh Hoa đông đủ. Trịnh Kiểm bàn:
– Thuận Quảng còn đang ở trong tay nhà Mạc thế mà lâu nay không dám ra quân đánh ta, rõ là quân ít tướng hèn chỏ lo trông giữ thành, còn nhà Mạc ở xa cũng gần như bỏ rơi. Nay ta theo kế Nguyễn Chích giúp Thái tổ ngày trước hãy tạm vào đánh mặt nam chiếm lấy làm hậu phương đã.
Quân Lê đi đến đâu cũng phát lệnh chiêu dụ quan dân, các quan nhà Mạc đều quy hàng. Chỉ có Viên Đàm bá Hoàng Bôi ở Hóa Châu dựa vào thành hiểm chống giữ. Nhưng Hóa Châu không có viện binh cuối cùng vẫn bị tiêu diệt. Quân Lê tiến vào Quảng Nam cũng bị tham tướng Phạm Khắc Khoan chống cự, nhưng Khắc Khoan bị chết trận, tướng sĩ dưới quyền dâng thành quy hàng. Nhà Mạc mất cả hai xứ Thuận Quảng rộng lớn mà không có phản ứng gì bởi quân đội vừa bị thiệt hại lớn do Phụng quốc công làm phản. Như thế đủ biết thế lực hai đã thay đổi, quân Lê từ thế phòng ngự đã chuyển sang thế cầm cự giống như Thái tổ sau khi chiếm Nghệ An, chuẩn bị tiến đánh Đông Quan của Tổng binh Vương Thông ngày trước.
ﮪ
Bình định xong Thuận Quảng. Trịnh Kiểm sai tướng tâm phúc là Trấn quận công làm Tổng trấn Quảng Nam để chống giữ quân Chiêm. Còn Thuận Hóa thì nghĩ đến em vợ là Nguyễn Hoàng, coi như để cho người em biết sự quan tâm chăm sóc của mình. Ở Thuận Hóa cũng không phải lo chiến tranh. Còn nếu Nguyễn Hoàng có bụng khác thì đã có Trấn quận công khống chế. Trịnh Kiểm bàn với vợ trước. Ngọc Bảo cảm động:
– Thiếp xin thay mặt bên ngoại cám ơn chàng trước. Cậu Hoàng được ra trấn thủ một vùng chắc là vui lắm đấy, thiếp sẽ bảo cậu ấy đến tạ ơn chàng.
Trịnh Kiểm gạt đi:
– Vì tình riêng nhưng cũng là việc công, nàng hiểu lòng ta thế là được rồi, đừng bảo cậu ấy đến tạ ơn ta kẻo cậu ấy nghĩ khác về ta. Hãy bảo cậu ấy đến tạ ơn Hoàng thượng thôi.
– Xin vâng.
Tiết chế Trịnh Kiểm liền dâng tấu cho vua, tấu viết:
“ Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu quốc triều ta bắt đầu gây dựng cơ nghiệp cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy địa thế hiểm trở, dân khí cường tráng, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn. Gần đây quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ để làm một bức bình phong vững chắc. Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh Công là Nguyễn Hoàng, một người trầm tĩnh cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng khoan dung giản dị, xin cử làm trấn thủ để trị an nơi biên thùy và chông giặc miền biển kéo vào, và lại cùng với Trấn quận công Quảng Nam cùng làm thế cứu viện lẫn nhau. Hết thảy các việc to nhỏ ở địa phương ấy xin đều để Hoàng được tùy ý định đoạt. Như vậy thì một vùng Ô Châu khỏi phải để ý tới, hạ thần sẽ khỏi phải phân tâm mà chỉ dốc hết ý chí về việc đông chinh, bắt đầukinh lý Sơn Nam và xứ Sơn Tây, rồi khôi phục kinh đô cũ, tiễu trừ thoán nghịch. Nghiệp trung hưn g sẽ có thể sớm thành công”.
Vua Lê nghe theo vì trong bụng vẫn muốn cất nhắc Nguyễn Hoàng nhưng còn chờ ý Trịnh Kiểm vì không muốn để xảy ra hiềm khích giữa hai nhà bùng lên. Đến đây vua Lê lại càng tin cậy Trịnh Kiểm là người hết lòng vì chủ cũ và vì đại nghĩa.
ﮪ
Mất Lê Bá Ly, vua Mạc Phúc Nguyên lo sợ, bỏ chầu cả tuần. Khiêm vương cũng bối rối không biết xử trí ra sao. Nhưng Nhiếp chính vương, không thể để xã tắc đổ theo vết của Lê Bá Ly được. Khiêm vương vào cung khuyên vua trẻ:
– Nhà Lê mới có được một xứ Thanh Hoa, Lê Bá Ly có mạnh hơn thật đấy, nhưng cái vạ Trung Hậu hầu hạ độc Nguyễn Kim còn đó, nay tất vua tôi nghi kỵ chưa dấm dùng hết tài, vì thế chưa có gì đáng gọi là tai họa cả.
– Vậy Vương gia có chủ ý gì chưa?
– Theo thần, Trịnh Kiểm sẽ sai bọn phản churddi đánh hòng cắt hẳn mối quan hệ vua tôi nhà ta. Chi bằng ta dùng kế “thả hổ về chuồng”, bỏ mặc kinh thành cho chúng. Nếu vua Lê đưa xa giá về kinh, bấy giờ ta đưa quân thủy vào cửa Thần Phù đánh chặn đường lui, rồi dốc toàn lực quyết một trận sẽ hốt gọn một mẻ lưới, còn lo gì về sau nữa. Còn nếu vua Lê không về kinh, nghĩa là Trịnh Kiểm vẫn còn nghi ngờ bọn hàng tướng, tưởng là giả vờ đầu hàng vì chúng đánh thắng như chẻ tre, ngỡ là quân ta cho thắng tạo cho chúng lập công với chủ mới. Bọn hàng tướng thất sủng, với bản tính tráo trở lại về theo ta thôi. Lúc ấy ta trị tội cũng chưa muộn. Thần chỉ tiếc tài cha con Thư quận công Nguyễn Quyện văn võ toàn tài, một mình đáng giá mười vạn quân đó.
– Sao khanh khong cho người đi gọi về?
– Thần đã đưa thư nhưng không có hồi âm.
– Vương gia nên thỉnh Trình Công ấy. Trình Công và Quận Thư trọng tài nhau, Nguyễn Quyện lại theo học Trình Công, hẳn Trình Công có thể giúp được.
– Đúng! Bệ hạ quả sáng suốt. Thế mà thần bối rối không nghĩ tới. Thần sẽ đi ngay.
Từ ngày từ quan, Trình Công về quê dựng am Bạch Vân, tự xưng là Bach Vân cư sĩ, sống an bần lạc đạo. Có nhiều người muốn theo học, nhưng Trình Công chỉ dạy một số ít người. Đó là cách dạy cuả Quỷ Cốc tiên sinh thuở trước. Học trò không thành tiên thì cũng thành kỳ nhân như Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Tô Tần, Trương Nghi. Nguyễn Quyện là học trò lứa đầu tiện khi Trình Công từ quan.
Khiêm vương cho quân lính dừng lại ở bến sông, một mìnhđi về phía vườn cây um tùm như một ngôi chùa cổ giữa vùng lúa xanh mượt mà. Cảnh trí u tịch. Không thấy tiếng trẻ ê a đọc bài. Đúng là am tu đạo tiên giữa vùng đồng bằng chiên trũng. Vào đến tận khoảng sân lát gạch Khiêm vương vẫn chưa gặp người. Trên chiếc chõng tre giữa nhà có hai thiếu niên học bài say sưa. Khiêm vương buộc phải lên tiếng:
– Dám hỏi hai cậu, Trình Công hôm nay có nhà không?
Hai thanh nien bấy giờ mới đứng dậy thi lễ. Một đứa hỏi:
– Ngài có phải là Mạc Khiêm vương không?
– Đúng vậy, sao cậu biết ta?
– Thầy cháu bảo hôm nay nhất định có khách, nếu khách, nếu khách đi một mình là Mạc Khiêm vương, nếu khách đi đông người là Mạc đế.
Thiếu niên còn lại tiếp lời:
– Đáng tiếc hôm nay Trình Công có việc phải sang sông thầy dặn khách đợi sang chiều thầy sẽ về. Thầy còn dawnj là thầy không phải là Ngọa long tiên sinh chờ Chúa đến mới xuất sơn mà làm khó khách đâu, thầy bận việc thật đấy.
– Cám ơn hai cậu đã cho biết. Vậy hai cậu cứ học bài đi, ta ra ngoài sông đợi vậy.
– Vâng, xin tiễn quan khách ạ.
Khiêm vương ra sân đi dạo ngắm cảnh một vòng rồi trở ra bến sông, nơi quân lính đang nghỉ.
Sang chiều Khiêm vương lại một mình bách bộ vào sau. Từ cổng đã có một thiếu niên đứng đón.
– Trình Công đã về. Xin quan khách vào ạ.
Khiêm vương lặng lẽ đi theo thiếu niên vào nhà.
– Mời quan khách cứ đi vào nhà trong, thầy cháu đang đợi đấy.
Khiêm vương đi theo hướng chỉ của thiếu niên. Cửa nhà trong mở rộng. Trinhg Công râu tóc bạc phơ, dáng vẻ tiên phong đạo cốt, da dẻ đỏ hồng, tay phe phẩy quạt lông đang nằm trên sập đọc sách, trên tường là bức sơn đồ bát quái. Phía đầu hồi là bức địa đồ Đại Việt. Đầu hồi bên kia là sơ đồ các chòm tinh tú. Khiêm vương dừng bước ở cửa, vừa thi lễ vừa nói:
– Học trò Mạc Khiêm vương kính chào Trình Công.
Bấy giờ Trình Công mới đặt sách, ngồi dậy ngay ngắn trên phản, đáp:
– Kẻ thất phu quê mùa này mà đáng để Khiêm vương phải nhoc công đến thăm ư? Thất lễ , thất lễ quá.
Khiêm vương vẫn cúi người đáp:
– Học trò biết Trình Công rất nặng lòng với Macj gia, nay xã tắc có biến, hoc trò không biết xử lý ra sao, chỉ có tiên sinh mới giải được nên đến xin thỉnh giáo ạ.
– Ấy, Khiêm vương đừng quá lời kẻo tôi tổn thọ. Chắc Khiêm vương muốn tôi gọi trò Quyện về chứ gì?
Nãy giờ Khiêm vương vẫn chưa dám ngẩn đầu lên, nay nghe vậy càng cúi thấp hơn, đáp:
– Trình Công quả là trí tuệ hơn người chẳng kém Quỷ Cốc tiên sing ngày xưa, chỉ ngồi một chỗ mà biết hết chuyện thiên hạ, hiểu rõ cả lòng người. Mới đây Thái tể Bá Ly phản Mạc hàng Lê, kéo theo cả gia quyến Quận Thư là chỗ thông gia. Hoc trò biết chỉ có Trình Công mới gọi được Quận Thư đưa các con về. Xin Trình Công nhón tay làm phúc thì Mạc gia ơn lắm lắm.
– Ấy, mời Khiêm vương vào nhà xơi nước đã. Ngài là bậc tôn quý sao cứ giữ lễ mãi thế, tôi tổn thọ lắm đấy.
Chờ Khiêm vương yên chỗ, dường như hai thiếu niên đợi sẵn đã bưng ngay trà ra mời thầy và khách. Chè mcos, vị ngọt đượm, chỉ một ngụm chè nhỏ mà cơ thể đã cảm thấy lâng lâng dễ chịu.
Trình Công vừa chiêu nước, vừa nói nhẹ nhàng:
– Tôi tự nhủ đã rũ bỏ hẳn bụi trần về nơi hẻo lánh này tu tâm dưỡng trí. Vậy mà Vương gia vẫn yêu quý, thực là làm khó cho tôi quá. Quận Thư phải ra đi quả là bất đắc dĩ, vô cùng bất đắc dĩ. Cái lỗi ấy đều do Nhiếp chính vương bao che bao che cho kẻ dưới làm bậy. Nay phải chính Nhiếp vương mới có thể gọi Quận Thư đem con về được.
– Hoc trò xin gắng hết sức, phải làm thế nào Trình Công cứ nói ạ.
– Tôi có bài thơ tặng Quận Thư đây.
Đoạn ngâm ca:
Cố ngã tồn cô duy nghĩa tại
Tri quân xử biến khởi tam can
Khi quân xử nhất chu ly phục hợp
Trường Giang khởi hữu hạn Đông Nam.
Dịch thơ:
Ta giúp mồ côi vì trọng nghĩa
Ông khi xử biến há cam lòng
Vận chuyển một vòng tan lại hợp
Trường giang đâu có hạn Đông Nam.
Được thư này Quận Thư nhất định trở về. Thế nhưng kẻ sĩ không muốn mang tiếng sớm nắng chiều mưa nên ông ta sẽ nấn ná ở lại. Bao giờ nghe tin Quận Thư chết, vương gia đem quân đánh Nguyễn Kiệm, nhưng đánh chỉ được thua, thua nhưng không lùi xa. Bao giờ đến biến Trinh Nữ thì tôi sẽ có cách gọi được anh em Quyện về.
– Vì lỗi của học trò làm nhọc công đến Trình Công, tội học trò lớn lắm.
– Thôi, Vương gia đi đi, tháng sau sẽ toại lòng thôi.
Tháng 7 năm Đinh Tỵ (1557) Khiêm vương đốc thúc quân theo đường biển đánh phá Thanh Nghệ. Thái tể Phạm Quỳnh đánh Nghệ An, đóng quân ở hạt Tả Ao huyện Nghi Xuân. Khiêm vương theo cửa Thần Phù vào đánh Nga Sơn, Tống Sơn. Quân Lê do Thanh quận công và Thụy quận công đống đồn cố thủ, quân Mạc không tiến được. Bấy giờ quân thủy do Văn quận công Nguyễn Quyện quản lính xông ra, Khiêm vương cho thuyền lui theo sông Yên Mô. Văn quận công từ từ đuổi theo. Đến bến Trinh Nữ bỗng có chiếc thuyền nan nhỏ bơi ra giữa hai quân.Thuyền tiến về lâu thuyền của Văn quận công. Văn quận công nhác trông thấy một lão tiên ông phong đạo cốt trên thuyền nan, biết ngay là thầy học, liền ra lệnh cho quân không được bắn rồi đứng ra mũi thuyền vái chào và đón Trình Công lên lâu thuyền.
Trình Công bảo:
– Cha con Phạm Quỳnh ỷ thế Khiêm vương chèn ép chủ cũ, làm vạ lây tới Tướng quân.Khiêm Vương hối hận, mời ta đến đây bảo Tướng quân. Ta biết trước việc này tất xảy ra nên đã từng căn dặn Quận Thư từ lúc ra làm quan, anh hùng không thờ hai chủ thời loạn, kẻo mang tiếng xấu về sau, điều này Tướng quân đã rõ. Không nhờ Phạm Quỳnh làm quá, Quận Thư buộc phải ra đi. Ta biết Quận Thư muốn về sớm, chỉ vì thẹn lòng nên chưa quyết đến nỗi phải bỏ mình nơi cửa người. Hẳn Quận Thư đã dặn dó tướng quân sự phải làm. Nay Khiêm vương ở đây, sao Tướng quân không sang lạy người đi.
Văn quận công bưng mặt khóc:
– Thưa thầy, con cũng muốn về nhưng chưa biết lòng dạ Khiêm vương thế nào. Nay người nhờ cả thầy đến bảo, con xin nghe lời thầy ngay.
Đoạn quay ra bảo em trai là Phú Hưng hầu:
– Trình Công đến đưa anh em ta về với chủ cũ. Anh em ta đã đi lạc đường lâu rồi, về với chỗ sáng thôi.
Chiến thuyền của quân Lê lập tức thay cờ. Văn quận công một mình đến thuyền Khiêm vương sụp lạy xin tha tội. Khiêm vương đỡ dậy nói:
– Ngọc quý dẫu có ở trong bùn vẫn sáng. Tướng quân là bạn tốt của ta, là tướng yêu của ta, ta mừng lắm. Nay quân đội đang ở đây, chẳng hay Tướng quân có kế gì phá giặc không?
– Thưa vương gia. Quân Lê mạnh ở Trịnh Kiểm. Tùy tướng có nhiều người giỏi, nhưngđáng ngại chỉ có Hữu Liêu mà thôi. Nhung Hữu Liêu có thể dùng Đà quận công khắc chế được. Bấy giờ ta đánh rát một trận diệt nốt thủy binh của địch sẽ đoạt lại được Sơn Nam.
– Hay lắm, ta cử Tướng quân làm tiên phong.
Nguyễn Quyện xuất quân đánh vào sông Hổ Trì hạt Giao Thủy. Trịnh Kiểm nghe giận lắm, sai Phạm Đốc dẫn thủy quân nghênh chiến. Phạm Đốc cử hổ tướng Vũ Lăng hầu Phạm Đức Kỳ người Hoằng Hóa làm tiên phong. Năm trước Đức Kỳ cũng làm tiên phong đánh Kính Điển ở cửa biển Thần Phù. Gặp thuyền Kính Điển, Đức Kỳ nhảy vọt sang tuốt gươm chém tên lính vá dù đứt đôi rơi xuống nước. Kính Điển trở tay không kịp phải nhảy xuống nước bỏ trốn. Quân Mạc tan tác. Riêng Kính Điển được một người đánh cá ở Trà Tu cứu thoát, nên tâu phong người đó tước Phù Nghĩa hầu. Lần này Đức Kỳ lại cho quân chèo thuyền xông thẳng vào giữa đội hình quân Mạc, áp sát lâu thuyền của Nguyễn Quyện, Nguyễn Quyện xông ra nghênh chiến. Đức Kỳ tuốt gươm xông đến. Hai bên giao chiến ác liệt. Nguyễn Quyện mới về nhà Mạc lại ra quân trận đầu nên đánh rất hăng hái. Đức Kỳ dần dần đuối sức phải nháy xuống sông lặn triisn. Nguyễn Quyện liền nhảy sang thuyền của Đức Kỳ chém người cầm lọng rồi hô to giữa trận:
– Đã chém được đầu Vũ Lăng hầu đây rồi! Chúng mày làm sao địch nổi ta.
Quân thủy nhà Lê trông thấy Nguyễn Quyện chiếm thuyền của tiên phong vội chạy lên bờ. Kính Điển cũng tung quân lên bờ chém giết. Trịnh Kiểm sai hổ tướng Hoàng Đình Ái đi chặn hậu. Quân Mạc đánh cực rát, quân Lê không chống nổi chỉ biết chạy dài, thiệt hại vài chục tướng và rất nhiều binh sĩ cùng toàn bộ chiến thuyền. Đuổi đến đầu xứ Thanh Hoa thì Kính Điển cho đóng quân lại giữ đất.
Vua Mạc Phúc Nguyên nghe tin Kính Điển đã thu hồi được Nguyễn Quyện và đại thắng ngay trận đầu Quyện ra quân mừng lắm, bảo Nguyễn Quyện đúng là đáng giá 10 vạn quân, và ban tước Thạc quận công cho Quyện.
Quyện lại bàn với Khiêm vương.
– Sơn Nam ta đã thu, còn Sơn Nam thượng nếu Chúa công sai Đà quận công dùng kế trá hàng để bắt Khải Khang chẳng khó gì.
Theo kế của Quyện, Đà quận công sai người sang phủ Khải Khang ở Mỹ Lương hẹn bàn việc lớn. Khỉa Khang tin cháu, đuổi hết võ sĩ đi nơi khác. Đà quận công dẫn vài thủ hạ vào phủ, chưa thi lễ đã tuyên bố:
– Hoàng thượng không đuổi mà cậu tự đem quân đi theo giặc không rõ là nguyên cớ gì. Nay Hoàng thượng sai cháu đến đây mời cậu về kinh phục mệnh, mời cậu đi ngay cho.
Khải Khang giận mắng:
– Cháu định đến bắt ta sao?
– Không phải là bắt, mà mời cậu về chịu mệnh, cậu vẫn đương chức đó thôi, nay cháu đến thay cậu quản Tây đạo đẻ cậu về kinh nhận mệnh mà.
Khải Khang không biết nói sao, lại cũng không có võ sĩ bảo vệ, buộc phải theo quân của Đà quận công về kinh. Đà quận công chiếm phủ ban chiếu lẹnh, quân Khải Khang lại theo về Đà quận công cả. Còn Khải Khang về kinh bị vua xử tội tứ mã xé xác. Từ đó Trịnh Kiểm mới tin dùng chúa Khải Khang là Nguyễn Hữu Liêu và phong cho làm đại tướng.
(Đón xem tiếp Chương 9)
Viết bình luận
Tin liên quan
-
Nhớ Hoàng Trần Cương lại nghĩ về trường ca “Long Mạch”
-
VỀ VỚI AO DƯƠNG
-
LỜI CÁM ƠN GIỚI SỦ HỌC ĐÃ ĐEM LẠI NHỮNG NHẬN THỨC ĐỔI MỚI VỀ NHÀ MẠC –
-
CÁC THÔNG ĐIỆP CỦA TIỀN NHÂN TẠI LỄ HỘI NÁ NHÈM –
-
THÁI TỔ MẠC ĐĂNG DUNG ĐẨY LÙI CUỘC XÂM LƯỢC CỦA 22 VẠN QUÂN MINH, TRÁNH CHO ĐẤT NƯỚC KHỎI THẢM HỌA CHIẾN TRANH NĂM 1540.
-
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
-
LỄ HỘI NÁ NHÈM – QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI –
-
CỔ VẬT KỲ SỰ: CÂY ĐÈN GỐM THỜI MẠC CÒN NGUYÊN VẸN
-
TRỞ LẠI NƠI XUẤT XỨ BÀI THƠ!
-
Chữ hiếu xưa và nay
- NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Nghệ An
- Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử
- ĐỊA CHỈ MỘT SỐ DI TÍCH NHÀ MẠC VÀ DANH THẮNG CƠ BẢN Ở TỈNH CAO BẰNG
- Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”
- CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC THỜI MẠC
- LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Bắc Giang
- HẬU TÁI ĐỊA DANH CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC
