- Đang online: 1
- Hôm qua: 704
- Tuần nay: 22926
- Tổng truy cập: 3,997,301
HỌC VỊ TIẾN SĨ VÀ PHÓ BẢNG
- 16 lượt xem
Năm 1472, Lê Thánh Tông phân loại tiến sĩ:
Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh (tên cũ là Trạng nguyên) được bổ chức quan Chánh lục phẩm, 8 tư.
Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh (tên cũ là Bảng Nhãn) được bổ chức quan Tòng lục phẩm, 7 tư.
Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh (tên cũ là Thám hoa) được bổ chức quan Chánh thất phẩm, 6 tư.
2. Loại thứ hai (đệ nhị giáp) có tên là “Tiến sĩ xuất thân” (về sau thường được gọi là hoàng giáp).
Loại này không chia bậc, chỉ xếp thứ tự, ai đỗ cao hơn được xếp ở trên. Khi bổ quan được lĩnh chức có hàm Tòng thất phẩm, 5 tư.
3. Loại thứ ba (đệ tam giáp) có tên là “Đồng Tiến sĩ xuất thân” (về sau thường được gọi là đồng tiến sĩ, hoặc tiến sĩ).
Loại này cũng không chia bậc, chỉ xếp thứ tự, ai đỗ cao hơn được xếp ở trên. Khi bổ chức quan được lĩnh chức có hàm chánh bát phẩm, 4 tư.
Tư nói đơn giản là một bậc của 24 bậc thăng quan tiến chức. Từ cửu phẩm đến nhất phẩm có 9 phẩm 18 tư, mỗi phẩm 2 tư là tòng và chánh. Cao hơn 18 tư là 6 tư để ban cho đại thần, rường cột của triều đình.
Cập đệ một mặt có nghĩa là thi đỗ, đồng thời theo quy định lại là loại đỗ cao phải trình vua chọn bổ ngay. Trong đời Nguyễn, tiến sĩ cập đệ được xét bổ dụng ngay, trong khi tiến sĩ xuất thân và đồng tiến sĩ xuất thân (sau thêm cả phó bảng) chỉ được bổ chức quan để ăn lương rồi vào làm việc nghiên cứu học tập thêm 3 năm, sau đó sát hạch, đủ tiêu chuẩn mới chính thức bổ làm quan để làm việc Nhà nước. Xuất thân là ra làm quan với tư cách là người được đào tạo chính quy, có bằng cấp hẳn hoi (có xuất thân) không phải là được tuyển dụng ngang (không có xuất thân). Nó hoàn toàn không có nghĩa là gốc gác từ đâu ra như cụm từ thành phần xuất thân trong việc khai lý lịch hiện nay. Đồng nghĩa là cùng, đồng tiến sĩ có nghĩa là cùng tiến sĩ, cùng hàng cùng loại với tiến sĩ, nhưng thứ bậc có kém hơn một chút, tương tự như đồng tri phủ (phó tri phủ), đồng Tri châu (phó Tri châu)…
Việc xếp loại như trên đã đưa đệ tam giáp tiến sĩ vào loại chính bảng (đỗ chính thức), không liệt họ vào loại đỗ phụ bảng (đỗ thêm) như trước. Nó xóa đi cách biệt chính bảng, phụ bảng mà vẫn duy trì thứ bậc, các loại tiến sĩ một cách hợp lý.
Từ sau quy định năm 1472, tuy tên các học vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và trước đó cả hoàng giáp đều không có duy trì chính thức nữa, nhưng người ta vẫn dùng các danh hiệu này để gọi một cách thông tục, thành tên thường gọi ngắn gọn, thay cho tên chính thức quá dài. Như vậy chỉ còn đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân chưa có tên gì ngắn gọn, mới đầu người ta gọi là “đồng tiến sĩ”. Song càng ngày số tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân được lấy trong một khoa thi càng chiếm tỷ lệ thấp đi, số đồng tiến sĩ xuất thân càng chiếm tỉ lệ cao lên. Cho nên đỗ được đệ tam giáp tiến sĩ cũng là giỏi lắm, đồng tiến sĩ ngày càng được tăng giá trị, người ta gọi ngắn hơn nữa là tiến sĩ mà chẳng sợ lẫn với các loại trên, lại tỏ lòng quý trọng họ. Nhưng từ cách gọi thông tục, ngắn gọn này không nên suy ra rằng chỉ có đệ tam giáp đồng tiến sĩ mới có tên gọi là tiến sĩ, còn các vị khác thì không phải, rằng từ “ông Nghè” chỉ dùng để gọi các đệ tam giáp đồng tiến sĩ mà thôi.
Năm 1829, vua Minh Mạng chủ trương lấy thêm học vị Phó bảng “để bổ dụng trước cho được phân biệt với cử nhân, giám sinh không cập cách” (trích Đại Nam thực lục) thí sinh đỗ thi Hội được phân làm 2 bảng là chính bảng và phó bảng cách biệt khá xa. Ngày ra bảng thi Hội, bảng danh sách các chánh bảng được đặt lên án đỏ, có khăn đoạn vàng trùm kín, che lọng đỏ. Án khiêng đi trước, các quan giám thí tuần sát đem quân lính đi sau hộ vệ, rồi đến quan chủ khảo, quan Tri cống cử ngồi võng đi theo, đến Ngọ môn thì dừng lại đem danh sách vào trình vua theo nghi thức, sau đó lại đem ra rồi cả đoàn lại cứ thế đi đến Phu văn lâu đem bảng treo lên 3 ngày. Bảng danh sách Phó bảng chỉ được đem treo ở Phu văn lâu một ngày, hôm sau cất đi, không có nghi lễ gì.
Điều quan trọng nhất là Phó bảng không được dự thi Đình để xếp loại tiến sĩ. Từ năm 1851 vua Tự Đức có cho thêm một số Phó bảng có điểm số thi Hội gần với điểm chuẩn đỗ chánh bảng được tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm chuẩn đỗ tiến sĩ thì được công nhận là tiến sĩ, nếu không đạt vẫn được công nhận là Phó bảng.
Cũng năm 1829, nhà Nguyễn tổ chức chấm thi Hội theo thang đánh giá 10 phân (11 bậc) như đã trình bày ở bài trước. Việc đánh giá theo thang điểm này chặt chẽ hơn thi Hương, nhưng khi thi Đình tinh thần đánh giá, chấm bài còn chặt chẽ hơn nữa: “Văn đình đối sự lý quan trọng hơn, nên phân số nghiệt hơn một bậc (như văn lý thi Hội được 2 phân thì thi:
Đạt 10 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (Trạng nguyên).
Đạt 9 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn).
Đạt 8 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa).
Đạt 7 và 6 điểm, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
Đạt 5 điểm trở xuống đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
Năm 1851 khi cho một số phó bảng dự thi Đình, vua Tự Đức giữ nguyên tiêu chuẩn đỗ tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân, sửa lại tiêu chuẩn đỗ đồng tiến sĩ xuất thân như sau:
Đạt 5 điểm đến 4 điểm đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
Đạt 3 điểm trở xuống đỗ phó bảng.
Việc phân chia loại đỗ tiến sĩ và phó bảng như trên chẳng khác mấy với việc phân chia các loại đỗ thành giỏi, khá, trung bình và thường hiện nay.
Với tinh thần chấm thi chặt chẽ của thi Đình, lại lấy vua và đại thần có vai trò quyết định vận mệnh của đất nước để chấm bài thi cho sinh viên mà nội dung bài thi bàn về việc giải quyết các vấn đề thời sự mà đất nước đang phải giải quyết thì làm sao có được điểm 10? cho nên Nhà Nguyễn không bao giờ cần phải tuyên bố không lấy Trạng nguyên mà trong thực tế không khoa thi Tiến sĩ nào lấy được Trạng nguyên, dù vẫn có tiêu chuẩn đỗ Trạng nguyên.
Đỗ Phó bảng, đối với người có tài lớn, thật là một điều đáng buồn vì không bao giờ họ còn được thi lại để đạt học vị tiến sĩ. Trường hợp của Vũ Duy Thanh đỗ Phó bảng năm 1851 rồi cùng năm đó lại đỗ Bảng nhãn khoa Bác học hoành tài là hết sức hiếm có. Dù sao đa số Phó bảng cũng được an ủi là có học vị chính thức. Trước 1829 những người như họ chẳng được học vị gì hơn cử nhân.
Hoàng Trần Hòa dẫn nguồn
Viết bình luận
Tin liên quan
-
Thần làng và Thành hoàng
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ KHOA CỬ TRUNG QUỐC TỚI VIỆT NAM (1)
-
Nghệ thuật tạo hình thời Mạc: Vẻ đẹp của hình khối
-
Nho học và thi cử ở Đông Kinh dưới thời Mạc (VUSTA.VN)
-
Văn bia thời Mạc (Wikipedia)
-
Giáo dục khoa cử thời Mạc (Wikipedia)
-
Những ông trạng tài ba thời Mạc
-
Tuyển tập thơ, phú thời Mạc
-
Giáo dục Nho học và thi cử ở Đông Kinh dưới thời Mạc (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (79); Tr.51-57)
-
Những cái nhất của trạng nguyên triều Mạc
- NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) – Tiểu sử và Sự nghiệp –
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Nghệ An
- Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử
- Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”
- ĐỊA CHỈ MỘT SỐ DI TÍCH NHÀ MẠC VÀ DANH THẮNG CƠ BẢN Ở TỈNH CAO BẰNG
- CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC THỜI MẠC
- LỊCH SỬ ĐIỆN SÙNG ĐỨC TỔ ĐƯỜNG MẠC TỘC VIỆT NAM
- HẬU TÁI ĐỊA DANH CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC
- Danh sách các chi họ Mạc và các chi họ gốc Mạc ở Bắc Giang

