Thứ 2, 10/05/0/2010
Chào mừng các bạn đến với website Mạc Tộc Việt Nam
I. Các gương sáng thời kỳ từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX

Cụ HOÀNG TRẦN TRỰC

VÌ SỰ NGHIỆP CHUNG TRỌN ĐỜI CỐNG HIẾN

          Ông Hoàng Trần Trực, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1921 (Tân Dậu). Họ Hoàng, gốc Mạc. Cụ Thủy tổ là Mạc Đăng Lượng - Phó Quốc Vương triều Mạc, cháu đời thứ 11 Lưỡng Quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, là bậc chú Thái tổ Mạc Đăng Dung. Do biến thiên lịch sử dòng họ phải ly tán, Ngài đổi tên là Hoàng Đăng Quang và Lê Đăng Hiền, lập nên 2 dòng họ Hoàng và Lê: Con cháu hệ Hoàng Trần lập chi ở Đặng Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Hệ Lê Đăng lập chi ở Nho Phái, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

          Ngài có công chiêu dân lập ấp được 137 hộ ở Tổng Đặng Sơn (bao gồm 3 xã Đặng Sơn, Bắc Sơn, Nam Sơn huyện Đô Lương ngày nay) nên nhân dân lập Tiên Đô Miếu ở xã Đặng sơn để ghi nhớ công đức. Sau được vua Quang Trung và triều Nguyễn Gia long  sắc phong Thượng-Thượng-Thượng Đẳng Thần.

          Ngài còn được một số xã thuộc huyện Nam Đàn tôn làm Thành Hoàng và lập đền thờ Ngài trên núi Tán Sơn, nay thuộc xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

          Ngày nay cả hai địa danh Đền Tán Sơn và Nhà thờ họ Hoàng trần Đặng sơn, Huyện Đô lương trên đều đã được Nhà nước cấp bằng di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

          Xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, đầu cầu Đô Lương phía hữu ngạn sông Lam, nơi bãi bồi mầu mỡ là một miền quê tươi đẹp bình dị, hiền hòa có bề dày lịch sử truyền thống cách mạng, một trong những địa chỉ Đỏ năm 1930 - 1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, lực lượng quần chúng nơi đây đã nổi dậy cướp chính quyền xây dựng nhiều làng Xô Viết.

          Xuất thân từ một dòng họ có tiếng và trong một gia đình có truyền thống hiếu học, cha là Hoàng Trần Siêu, học chữ Hán thi đậu tú tài mở trường dạy học nhằm nâng cao dân trí, được thưởng: Hàn Lâm Cung phụng và được nhà nước công nhận người có công hoạt động Cộng sản trước năm 1945 thời kỳ 1931-1932. Mẹ là bà kế thất Phan Thị Nhàn, một người phụ nữ cần mẫn, đoan trang và nhân hậu.

          Thuở nhỏ ông từng là người có trí, ham học và rất thông minh, học xong sơ yếu lược ở Đô Lương và đứng đầu lớp. Khoảng 14-15 tuổi (1935/1936) ông đã xa nhà, vào Thuận Hóa học và đậu bằng Thành Chung (Diplôme).

          Ông học thêm và đậu tú tài bán phần trường Hà nội, thi đỗ phán sự Tòa sứ, được bổ nhiệm ra làm Tòa sứ Sông Cầu tỉnh Phú Yên.

          Sau Nhật đảo chính Pháp 3/1945 ông rời Phú Yên về quê tham gia hoạt động trong phong trào thanh niên, tham gia cướp chính quyền tháng 8/1945 ở xã Đặng Sơn. Là cán bộ Đoàn thanh niên Cứu quốc xã Đặng Sơn, huyện Anh Sơn. Tháng 6/1946 làm Huyện đoàn trưởng thanh niên Việt Nam huyện Anh Sơn. Ngày 19/9/1947 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng từ năm 1947 đến tháng 12/1948 giữ trách nhiệm Bí thư Tỉnh đoàn thanh niên Việt Nam Nghệ An.

Từ tháng 1/1949 đến 1953 được cử giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện An Sơn.

Từ 1953 đến 1957 là Ủy viên Hội đồng Nhân dân tỉnh, Chánh văn phòng Ủy ban Hành chính tỉnh Nghệ An và Phó Quản đốc Chi nhánh Lâm khẩn Nghệ An.

Với nhiệt thành cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao ông đã có nhiều cố gắng trong các nhiệm vụ được giao, đã góp một phần nhỏ vào sự nghiệp xây dựng nên lịch sử tỉnh Nghệ An.

Do yêu cầu nhiệm vụ, năm 1957 ông được cấp trên điều ra Bộ Nông lâm và cũng từ 1957 đến 1960 được Bộ Nông lâm bổ nhiệm Phó phòng tổng hợp Văn phòng bộ.

Năm 1960 Chỉnh phủ thành lập Tổng cục Thủy sản, ông được bổ nhiệm Trưởng phòng Tổng hợp Tổng cục Thủy sản, sau đổi là Bộ Thủy sản và từ 1978 đến 1981 ông được bổ nhiệm Phó văn phòng Bộ Thủy sản, giữ chức vụ cho đến khi nghỉ hưu.

Là con người trung thực, thân ái, cởi mở, đoàn kết với mọi người; đối với công việc luôn tận tụy, không bao giờ nề hà khó khăn, cống hiến hết mình cho công việc và luôn được bạn bè, đồng sự, đồng chí yêu thương và kính trọng.

Với trên 50 năm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng , người có công Hoạt động cách mạng trước năm 1945 và nhiều Huy chương, Bằng khen khác.

Năm 1981 ông được nghỉ hưu về ở xã Cách Bi huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông vẫn không nghỉ ngơi mà luôn tích cực tham gia hoạt động trong các phong trào ở địa phương. Ông là người luôn hướng về quê hương và dòng họ, Cùng với vợ là Bà Nguyễn Ngô Thị Đẹm (vốn là con của Tú tài Nguyễn Ngô Hạp Hàn Lâm viện Học sỹ ở lạng Điền Anh sơn)  đã vận động những vị cao tuổi trong dòng họ tu tạo Từ đường dòng họ và phần mộ Tổ tiên, để tâm và dành nhiều thời gian cùng các vị trưởng lão trong họ sưu tầm, dịch và biên tập gia phả của dòng họ Hoàng trần Ở Đặng sơn và Họ Hoàng tại Hà nội, xây dựng gia phong dòng họ đi vào nề nếp.

Từ đáy lòng của nhiều bà con thân tộc trong họ Hoàng Trần đều có nhận thức rằng ông Hoàng Trần Trực là người luôn tâm huyết hướng về cội nguồn Tông tộc, là một trong những người có công trong việc quy tụ con cháu 5 chi họ Hoàng thuộc phái hệ Mạc Đăng Lượng. Ông là Cha của Nhà Thơ Hoàng trần Cương và Hoàng trần Hòa, Hoàng trần Đồng.

Do tuổi cao và bị bệnh hiểm nghèo, ông đã không vượt qua được mệnh số và thanh thản ra đi vào cõi vĩnh hằng cùng Tiên tổ vào ngày 20 tháng 5 Đinh Sửu tức ngày 24 tháng 6 năm 1997, hưởng thọ 76 tuổi.

Phần mộ của ông được an táng tại Khu A Nghĩa trang Thanh Tước - Hà Nội.

Đại tá: HOÀNG CAO QUÝ

             Hoàng trần Hòa Chép trích gương sáng dòng họ xuất bản 2004.

Các tin đã đưa
Bình luận
 
  Viết bình luận
 
Off Telex VNI VIQR
Họ tên
(*)
Email
(*)  
Địa chỉ
(*)
Nội dung
(*)
Mã xác nhận
(*)
Chú thích
(*) Là các trường bắt buộc
 
Hậu duệ nhà Mạc