Thứ 2, 10/05/0/2010
Chào mừng các bạn đến với website Mạc Tộc Việt Nam
Tóm tắt sử họ Mạc

Họ Mạc, Nhà Mạc trong lịch sử

    Chia sẻ lên LinkHay.comShare on GoogleShare on FacebookShare on Twitter

Lễ rước long đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung

(DVT.vn) - Lịch sử bao giờ cũng cần được nhìn nhận lại. Để vinh danh và chiêu tuyết cho tổ tiên; để noi gương sáng, tránh điều xấu; để đoàn kết, bao dung.

Nguyễn Sĩ Đại

Nguồn gốc họ Mạc


Người xưa nói , phàm đã làm người, nhất là người có hiếu, thì phải biết “thận chung truy viễn” tìm về nguồn cội cha ông. Nhưng nước ta chữ viết muộn mằn; đời nhiều tao loạn; thù oán sâu nặng, án tru di tam tộc, cửu tộc không ít. Việc tha phương tránh họa, đổi họ tên, danh phận khá phổ biến. Vì vậy, việc tìm về nguồn cội với thủy tổ, viễn tổ; việc kết nối các chi phái trong dòng họ hết sức khó khăn.

Họ Mạc, từ triều  Lý có Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, nhà Trần có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi từng làm  vẻ vang nước nhà. Đến nhà Lê, Mạc Đăng Dung nổi lên như một dũng tướng, sau xưng vương, lập nên một vương triều tồn tại 150 năm – đó cũng là một triều đại tiến bộ, có thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực.

Dựng cờ phục Lê, nhà Trịnh thắng Mạc đã quật phá Dương Kinh, truy sát họ Mạc một cách tàn khốc, khiến con cháu họ này phải lưu tán bốn phương, đổi thành họ khác, không ai còn dám giữ họ Mạc. Do vậy, lịch sử của họ Mạc càng có nhiều đau thương và khác biệt đối với một số họ khác.

Khu di tích Nhà Mạc ở Dương Kinh, Hải Phòng.

Có thể coi Thủy tổ họ Mạc ở Việt Nam là cụ Mạc Hiển Tích, vị Trạng nguyên thứ hai của Việt Nam, sau Lê Văn Thịnh (1075) được ghi trong sách sử là người làng Long Động (cũng có sách chép là Lũng Động), Chí Linh, nay là Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương.

Xa xưa nữa, họ Mạc ở đâu?

Cuốn sách chép tay bằng chữ Hán, viết theo lối chữ chân, khổ giấy 13x24 của Ngọc Thu, chép vào tháng 7 năm Kỷ Hợi (1899) dưới triều vua Thành Thái nhả Nguyễn doTS Hoàng Văn Lâu dịch, cho biết, họ Mạc vốn là họ Cơ, có lịch sử lâu đời, từ Trung Hoa chuyển cư sang. Bài tựa cho Thế phả họ Mạc tại thôn Tiều Lợi, huyện Đông Hoãn, tỉnh Quảng Đông và phả hệ nhà Mạc được chép trong sách của Ngọc Thu cho biết:

“Xưa Trịnh Tiều viết Thông Chí lược có ghi rõ dòng họ. Ta ngờ họ Mạc bắt nguồn từ họ Mạc (mất ), khởi đầu từ con cháu "cửu quan" thời Đường Ngu, hỏi thì không có căn cứ nào để khảo được.

Nay là tháng 9 mùa thu năm Quý Sửu, niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 41 (1613),các ông họ Mạc là Ứng Dương, Hồng Trinh, Long Tích, Tuấn Minh đều là người nổi tiếng trong huyện, họp người trong họ, tu sửa phần mộ tổ tiên, kể lại thế thứ, rồi đem cho ta xem. Ta nghĩ họ Mạc vốn là họ Cơ. Cuối đời Chu bị ly tán đến đời Tần, Hán có người dời đến Cự Lộc làm quan đến Chấp kích, ăn thực ấp ở đất Mạc nên lấy tên đất là tên họ là Mạc. Nay huyện Nhiệm Khâu, phủ Hà Giản là huyện Mạc ngày xưa vậy, cũng gọi là Mạc Châu, dấu tích xưa vẫn còn, họ Mạc bắt đầu từ đó. Đến năm Đại Lịch, Mạc Tang làm Bắc bộ Viên ngoại lang, sau dời đến ngõ Châu Cơ, thôn Kim Lũ đất Phong Châu.

Đến năm Đại Trung thứ năm đời Đường (660) thì có ngài Trạng nguyên Mạc Tuyên Khanh là người đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam. Kế đó có Tấn thứ sử rồi đến Như Tùng. Năm Thiên Thành thứ 3 đời Đường Minh Tông vì có tài văn học được vời làm Trung thư kiêm Thị giảng học sĩ. Kế đó có Hữu Hoài, quan biệt giá bắt đầu ra ở đất Lăng Thủy thuộc Nam Hùng.

Đến đời Cảnh Hựu (1038) triều Tống Nhân Tông thì có cụ Vĩnh Xương đỗ Tiến sĩ làm Học huấn Quảng Châu, do đó làm nhà ở cầu Thanh Phong, thành Quảng Châu, sinh được 3 con trai: con cả là Ngu, con thứ là Lỗ, con thứ ba là Độn. Cụ Ngu làm trực giảng ở Vương phủ. Con cháu dời đến đất Vĩ Tụng thuộc Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Châu). Còn con cháu cụ Lỗ vì có Dương hầu tàn ngược nên nhà cửa bị tàn phá đổ nát. Cụ Độn ra Thất An và cụ Lỗ do đó dời đến ở thôn Lỗ. Con của cụ Độn là Mạc Vi dời đến ở thôn Tiều Lợi, huyện Đông Hoãn, khi ấy cụ dâng thư hiến kế sách góp thóc giúp việc biên cương, được phong là Phụng nghị đại phu, lấy bà Nghi nhân Trần Thị Nam. Cụ mất năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 22 đời Tống Cao Tông. Chôn ở gò Thánh Nương, Trà Linh huyện Đông Hoãn, hợp táng với cụ bà Trần thị. Đó là Thủy tổ họ Mạc dời đến trong ấp.

Sau này, 7 người con chia thành 7 chi. Con cả ở Tiều Lợi. Con thứ ở thôn Đại Đao thuộc cửa khẩu Thạch Thủy. Con thứ ba từ Tiều Lợi dời đến ở gò Long Vĩ thuộc Lỗ Thành, vợ là Chu thị, sinh được 2 con trai, con cả là Văn Hoán, con thứ là Văn Quang. Vợ Quang là Lý thị sinh ra Tổng Cán. Dời đến ở Quan Điền, vợ là Tiết thị, sinh được 3 con: con cả là Thượng Tuấn, con thứ là Thượng Đạt, con thứ ba là Thượng Hiền. Tuấn vẫn ở Quan Điền, Hiền dời đến đất Cổ Thiệp, Đạt dời đến ở Thạch Vĩ, tức thôn Mạc ốc. Vợ cụ Thượng Đạt là Dương thị, sinh được 2 con. Con trưởng là Khắc Xương, con thứ là Khắc Phát. Vợ cụ Khắc Phát là Hà thị sinh được 2 con. Con trưởng là Bản Trinh, con thứ là Bản Tường. Cụ Tường sinh được 4 con: Kính Hoà, Kính Đức, Kính Nghiệp, Kính Hiền.

Nay ghi bài tựa này để con cháu đời đời chớ có thay đổi, để biết ngọn ngành nguồn gốc của họ Mạc vậy.

- Thủy tổ cụ Tuyên Khanh đỗ Trạng nguyên năm Đại Trung thứ 5 đời Đường.
- Tổ đời thứ hai là cụ Tấn làm quan Biệt giá Hoài Châu.
- Tổ đời thứ ba là cụ Như Tùng làm Đoạn Minh điện đại học sĩ Đường Minh Tông.

Truyền đến đời thứ 22 thì đến cụ tổ là Đại Luân, tự là Đôn Nhân, dời sang ở Hà Nội nước Đại Nam.

Phả hệ nhà Mạc ở Trung Hoa theo gia phả Mạc tộc ở Quảng Đông



(Còn nữa)
Các tin đã đưa
Bình luận
 
  Viết bình luận
 
Off Telex VNI VIQR
Họ tên
(*)
Email
(*)  
Địa chỉ
(*)
Nội dung
(*)
Mã xác nhận
(*)
Chú thích
(*) Là các trường bắt buộc
 
Hậu duệ nhà Mạc