Thứ 2, 10/05/0/2010
Chào mừng các bạn đến với website Mạc Tộc Việt Nam
I. Các gương sáng thời kỳ từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX
BBT vừa nhận được bài viết này từ ông Hoàng Sơn Hiền. Xin trân trọng giới thiệu.
BBT mới nhận được bài viết từ ông Hoàng Trần Hòa gửi đến. Xin trân trọng giới thiệu.
Vị quan họ Bùi khen ngợi Đăng Huân là người rất có khẩu khí. Quả nhiên sau đó Nguyễn Đăng Huân đã thi một mạch đến Hoàng Giáp Tiến sỹ. ngày nay trên cổng cũ của gia đình vẫn còn dòng chữ “Nguyễn Đình nguyên - đệ nhất bộ”. Học tập rất cần cù, chăm chỉ nhà nghèo không đủ tiền mua đèn dầu, Đăng Huân nảy ra sáng kiến bắt đom đóm cho vào lọ thuỷ tinh lấy ánh sáng để học.
Hải Dương xưa còn là tỉnh Đông vì năm ở phía Đông kinh thành Thăng Long. Về thời Lê là một trong bốn tứ trấn (Sơn Tay, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương). Năm 1466 gọi là Thừa truyên Nam Sách, năm 1469 đổi tên là trấn Hải Dương, năm 1831 đặt tên là tỉnh Hải Dương. Là một vùng đất cổ, có nhiều danh thắng mà nhiều người biết như: “Côn Sơn có suối nước trong.
Hoàng Công Chất (chưa rõ ngày sinh, năm sinh), tên là Hoàng Công Thư, xuất thân trong một gia đình nghèo (gốc họ Mạc) người làng Hoàng Xá, huyện Thư trì, trấn Nam sơn hạ, nay thuộc xã Nguyên Xá, huyện Vũ thư, tỉnh Thái Bình. Ông là một lãnh tụ nông dân kiệt xuất, dựng cờ khởi nghĩa chống lại triều đình Lê Trịnh cứu dân nghèo vì nghĩa lớn “Bảo Quốc an dân” diệt cường hào ác bá, lấy của giàu chia cho dân nghèo, với hoài bão xoá bỏ bất công, lập lại kỷ cương, phục hưng đất nước thống nhất giang sơn, thái bình muôn thưở.
Phạm Nguyễn Du vốn tên là Phạm Vĩ Khiêm, hiệu là Thạch Động, Dưỡng Hiên. Ông sinh năm 1739 trong một gia đình nhà nho tại làng Thạch Động, tổng Đặng Điền, huyện Chân Lộc, nay là xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An Phạm Nguyễn Du cất tiếng khóc chào đời giữa lúc phong trào nông dần Đàng Ngoài đang diễn ra quyết liệt tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa.
Một trong những tuyến tham quan có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với du khách, đó là Hà Tiên. Bạn đã từng tới Hà Tiên rồi sao? Xin chúc mừng bạn. nhưng, lúc ở Hà Tiên có bao giờ bạn cảm thấy bâng khuâng khi chợt nghĩ đến người đã có công tạo ra những tên thật đẹp và thật thân thương cho miền đất này không? Chưa ư? Vậy thì chúng ta hãy bắt đầu nhé.
Năm 1780 có một di thần nhà Minh bên Trung Quốc không thần phục nhà Thanh, tên là Mạc Cửu, đã dong thuyền cập bến Hà Tiên. Thấy phong cảnh Hà Tiên có núi lạ sông đẹp, trời đất khoáng đạt, bèn thần phục và xin cư trú, được chúa Nguyễn Phúc Chu thuận phong là Tổng binh trần Hà Tiên. Mặc Cửu lấy vợ người Việt, sinh con đặt tên Mặc Thiên Tứ, thường gọi Mạc Thiên Tích.
Cụ Bùi Đăng Địch huý Thái, thuỵ Kiêm Trí, đời thứ 4 họ Bùi Đăng, sinh năm Mậu Tý (1780) niên hiệu Vĩnh Thịnh 4, đời cua Lê Dụ Tông. Con cụ Bùi Đăng Thông và Lê Thị Đạc. Gốc họ Mạc sau 1592 đổi sang họ mẹ, họ Bùi. Hai cụ bỏ tiền của, đứng ra chiêu mộ dân ly tán đói khổ vì chiến tranh Trịnh Nguyễn, khai hoang khẩn hoá, đắp đê ngăn nước sông Trà Lý, đào sông tiêu nước, tạo dựng làng ấp mới được dân suy tôn là thành hoàng thôn Đồng Cống- Hiện còn lưu giữ được một sắc phong thành hoàng của vua Khải Định, Triều Nguyễn (1924).
Họ Hoàng Đông Sơn là một họ lớn ở Đô Lương, Nghệ An, qua trên 300 năm hình thành và phát triển, đến nay đã truyền đến đời thứ 13. Thuỷ tổ họ Hoàng ở đây là cụ Hoàng Phúc Đặc cháu Đức Triệu tổ Mạc Mậu Giang (con thứ 14 Vua Mạc Phúc Nguyên), và bà Vũ Thị Kiệm (vợ thứ 5) ở Diễn Kim, Diễn Châu, Nghệ An. Cha là Hoàng Phúc Hải sinh được 6 con trai và ngài là con thứ ba.
Hậu duệ nhà Mạc